Friday, February 27, 2009

Tại sao sức cạnh tranh IT Việt Nam giậm chân tại chỗ?

Tại sao sức cạnh tranh IT Việt Nam giậm chân tại chỗ?
Chỉ số cạnh tranh CNTT toàn cầu 2008 dùng nhiều số liệu cũ từ năm 2004, 2005 và 2006 để đánh giá.

Mặc dù không gây sốc như lần đầu tiên công bố, nhưng việc Việt Nam giậm chân tại chỗ với đa số tiêu chí tụt hạng trong Chỉ số cạnh tranh CNTT toàn cầu 2008 là điều đáng suy nghĩ.

Chỉ số này do Cơ quan thông tin kinh tế (EIU) thực hiện theo đặt hàng của Liên minh Phần mềm doanh nghiệp (BSA) vừa được công bố, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 61/66 quốc gia được đánh giá. Trong tổng số 6 nhóm tiêu chí của Việt Nam, có tới 4 nhóm tiêu chí tụt hạng, một nhóm tiêu chí giữ nguyên và chỉ có một tiêu chí tăng hạng (nguồn nhân lực). Đáng chú ý là nhóm tiêu chí về môi trường nghiên cứu và phát triển đã giảm tới 9 bậc.

Sức cạnh tranh 2008 hay 2004 - 2007?

Đây là năm thứ hai EIU công bố chỉ số này. Năm ngoái, sau khi công bố chỉ số này với kết quả Việt Nam xếp hạng 61/64 quốc gia, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Bộ TT&TT giải trình về kết quả nghiên cứu này.

So với năm ngoái, chỉ số năm nay bổ sung thêm hai quốc gia là Croatia và Bangladest, còn cách tính vẫn giữ nguyên. Cụ thể, chỉ số này được xây dựng trên 6 tiêu chí gồm 25 chỉ tiêu, trong đó gồm 12 chỉ tiêu định lượng và 13 chỉ tiêu định tính. Các tiêu chí định lượng được bình quân theo dân số. Sau đó, cả chỉ tiêu định tính và định lượng đều được chấm theo thang điểm từ 0-5. Trong mỗi nhóm tiêu chí, các chỉ tiêu được xếp theo trọng số khác nhau và chuẩn hóa lại theo thang điểm 0-100 để tính chỉ số của mỗi nhóm. Chỉ số cuối cùng được lấy trung bình từ 6 tiêu chí nói trên.

Theo báo cáo đầy đủ của EIU, 12 chỉ tiêu định lượng được đánh giá trên số liệu từ các tổ chức nghiên cứu IDC, ITU, WB, ILO, Unesco, Pyramid Research, Netcraft và OECD. Tuy nhiên, đó đều là các số liệu cũ từ các năm 2004, 2005, 2006 và mới nhất là 2007. Trong số 12 chỉ tiêu định lượng, có 6 chỉ tiêu lấy số liệu từ năm 2004-2005, 2 chỉ tiêu từ số liệu của năm 2006 và 4 chỉ tiêu số liệu năm 2007.

Như vậy, có thể thấy báo cáo thực trạng cạnh tranh CNTT năm 2008 nhưng thực chất là đánh giá cho giai đoạn 2004-2007.

Hơn nữa, nhìn vào bảng chỉ số này có thể thấy có sự tương quan giữa thu nhập bình quân đầu người (GDP) và khả năng cạnh tranh CNTT quốc gia. Khi so Việt Nam với các nước xếp hạng cao trong chỉ số này có sự chênh lệch rất lớn về GDP. Trong số 20 nước đứng đầu chỉ số này, đa số là những quốc gia phát triển của châu Âu, Bắc Mỹ và một số nước châu Á có ngành công nghiệp CNTT rất phát triển như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore.

Đặc biệt, việc áp dụng trọng số cao cho các chỉ tiêu liên quan đến nền kinh tế tri thức và công nghệ vững mạnh là lý do khiến các quốc gia đang phát triển như Việt Nam khó có thể nâng cao trong chỉ số này. Ví dụ, nhóm tiêu chí "Cơ sở hạ tầng CNTT" có chỉ tiêu "số máy tính/100 dân" với trọng số tới 60%; nhóm tiêu chí "Môi trường nghiên cứu và phát triển" có chỉ tiêu "số bằng sáng đăng ký trên mỗi 100 dân hàng năm" với trọng số tới 65%.

Lộ diện những điểm yếu

Mặc dù còn nhiều điều cần bàn về cách tính và số liệu đánh giá trong nghiên cứu này, vì vậy, thứ hạng có thể không phải là quan trọng, nhưng kết quả nghiên cứu này là lời cảnh tỉnh hữu ích với Việt Nam.

Nhìn vào chỉ số vừa công bố, tiêu chí cơ sở hạ tầng CNTT của Việt Nam giảm một bậc so với năm ngoái nhưng đáng ngại là những tiêu chí cơ bản như tỷ lệ băng rộng (chỉ đạt 0,8 điểm trong thang điểm 100), số lượng máy tính (1,4 máy tính/100 dân) của Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với thế giới.

Tiêu chí nguồn nhân lực tăng ba bậc, nhưng chất lượng nhân lực không đáp ứng được nhu cầu của các công ty, 10 ứng viên xin việc chỉ tuyển được 1 người. Điều này, theo EIU, sẽ khiến cho chi phí lương nhân lực CNTT của Việt Nam gia tăng nhanh, qua đó làm giảm sức cạnh tranh và sức hút đầu tư, nhất là trong hoạt động gia công phần mềm.

Đặc biệt đáng lo ngại nhất là tiêu chí về nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam chỉ đạt 0,1 điểm trong thang điểm 100. Phải chăng Việt Nam không quan tâm đến R&D trong lĩnh vực CNTT?

Về chính sách, theo ông Ngô Khánh Sơn, Phó vụ trưởng Vụ Công nghệ thông tin (Bộ TT&TT), từ lâu Chính phủ đã rất quan tâm tới R&D trong lĩnh vực CNTT, cụ thể như việc ra đời các khu công nghệ cao, cung cấp các ưu đãi thuế cho doanh nghiệp CNTT. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách này không hiệu quả.

Ông Sơn cho rằng muốn phát triển R&D đòi hỏi phải tập trung cả hai yếu tố tài chính và con người. Trong khi đó, các doanh nghiệp CNTT của Việt Nam đa phần có quy mô nhỏ và vừa không đủ tiềm lực để đầu tư cho R&D. Hầu hết doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức đưa ra các giải pháp và sáng kiến hữu ích chỉ đủ để duy trì sự phát triển ngắn hạn, chứ chưa có khả năng nghiên cứu ra bằng sáng chế hay phát minh độc quyền trong lĩnh vực CNTT để tạo sự phát triển bền vững.

Để thúc đẩy R&D trong lĩnh vực CNTT, theo ông Sơn, Chính phủ cần có cơ chế cho các quỹ đầu tư mạo hiểm và có ưu đãi khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động này. Để tránh các doanh nghiệp lợi dụng những ưu đãi này, Chính phủ có thể áp dụng hình thức hậu kiểm qua hệ thống thanh kiểm tra, giám sát việc thực hiện.


(Theo ICTnews)

Phần mềm chỉnh sữa ảnh online

Sửa ảnh trực tuyến với “bộ tứ siêu đẳng” của Aviary

(Dân trí) - Aviary là bộ công cụ chỉnh sửa ảnh trực tuyến chạy trên nền web với 4 ứng dụng chính. Bộ tứ này hứa hẹn sẽ trở thành những công cụ online giúp chỉnh sửa ảnh đắc lực, với nhiều tính năng mạnh mẽ không thua gì các ứng dụng đồ hoạ của Adobe.

Tất cả 4 ứng dụng này đều được lập trình và chạy trên nền Flash.

7 công cụ chỉnh sửa ảnh trực tuyến hữu ích miễn phí

(VnMedia) - Có hàng tá các trang web cho phép chỉnh sửa hình ảnh trực tuyến từ mức độ đơn giản (cắt, co dãn kích thước) tới các chức năng chuyên nghiệp. Và trang tồi nhất cũng trở nên thực sự hữu ích nếu bạn không thể truy cập được vào phần mềm chỉnh sửa ảnh yêu thích của mình.

Hầu hết các ứng dụng chỉnh sửa ảnh đó sẽ hoạt động được ngay cả trên các netbook công suất thấp. Điều này có thể thực hiện được là vì các tính năng tốn nhiều công suất xử lý sẽ được thực hiện trên máy chủ do đó tốc độ kết nối với máy chủ sẽ quan trọng như chính việc xử lý trên máy tính của bạn.

Wednesday, February 25, 2009

Nghệ thuật thuyết phục

Lang thang trên mạng nên tìm được bài này rầt cùng tâm trạng với mình (vì tui cũng hay bị dzụ theo kiểu này lắm), nên mạo muội pót lên blog mình để tham khảo.

Cách đây đúng một tuần, lúc tui đang ngồi nghỉ mệt và tranh thủ đọc sách ở góc một tòa nhà to đùng, thì có một khứa thình lình xuất hiện, hỏi như quát vào mặt, "hello, speak good english?".

Tui vừa mới hỏi lại, "yes?", thì khứa liền hỏi tới tấp, "where're you from?", rồi "first time to singapore?", rồi bắt đầu nói liên hồi. Tui nghe được loáng thoáng, đại loại như tình hình kinh tế khó khăn, nhiều người mất việc, khứa cũng mất việc, nên giờ phải ra ngoài làm việc ngoài trời, và khứa đề nghị tui giúp đỡ để khứa tiếp tục làm việc ngoài trời, không phải đi tìm việc khác, cũng là cách để giúp cho những đứa đang làm việc trong nhà không bị mất việc.

Tui thấy cái lý luận của khứa này nó kỳ kỳ, cộng với thái độ thân thiện giả tạo, nên ngay lập tức, tui vốn đa nghi mà, mấy cái dây thần kinh cảnh giác của tui nó rung bần bật liền. Đúng là khứa bắt đầu giở trò.

Khứa đề nghị tui mua một cái con thú gì đó, dạng để làm mốc khóa, với giá $10. Tui biết mấy con này rẻ bèo àh, nên tui liền từ chối, lấy một lý do mà tui nghĩ là cũng khôn :)), "tao hết tiền rồi, tự mới mua một đống sách nè", rồi giơ đống sách cho khứa coi.

Khứa tiếp tục nài nỉ, "có $10 thôi mà. Đây là làm từ thiện mà". Tui vẫn cương quyết, "xin lỗi, nhưng mà tao hết tiền thật rồi". Lúc này khứa mới tung chưởng, kết quả là tui vẫn tốn tiền. Trước khi tiết lộ khứa dùng chiêu pháp gì, tui cũng nói thiệt từ lúc bỏ tiền ra "giúp" khứa cho đến cách đây vài tiếng, tui vẫn chưa biết mình đã bị gài bẫy. Chỉ là nhờ hôm nay đẹp trời, ngồi đọc một trong những cuốn sách vừa mua được, tui mới ngộ ra được là tui đã sụp bẫy của hắn. Thế mới biết là cái chiêu của hắn lợi hại đến thế nào.

Sau khi thấy tui cương quyết không mua con $10, nhắm thấy khó ăn rồi, khứa mới móc túi ra cái huy hiệu xấu ỉnh (chắc chỉ 20 cent), nói như van nài, "thôi vậy thì mày mua giúp tao cái này đi, chỉ có $2 thôi". Tui không nhớ chính xác suy nghĩ của tui lúc đó, nhưng hình như là tui đã không có suy nghĩ gì hết trội, mà hoàn toàn tự nhiên, tui thò tay vào túi quần jean, xem thử còn xu nào không, rồi sau một hồi lục lọi tìm được $1.6, móc ra đưa hết cho khứa. Khứa chộp lấy, kêu thôi nhiêu đây đủ rồi, dí vào tay tui cái huy hiệu, rồi bỏ đi, không chào từ biệt luôn.

Tui quay lại tiếp tục đọc sách, và quên hẳn chuyện vừa mới xảy ra, cho đến khi, như đã nói ở trên, tui bắt đầu đọc cuốn "influence: the psychology of persuasion", một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất thế giới, đã bán được 1 triệu lẻ 1 cuốn (tui là khách hàng thứ 1 triệu lẻ 1 đó :-p), và được dịch ra 20 thứ tiếng khác nhau.

Cuốn sách này đặc biệt ở chỗ, để viết nó, tác giả của nó, tiến sĩ Robert b. Cialdini, bên cạnh các thí nghiệm ở trường, đã phải "vi hành" hơn 3 năm trời, làm đủ thứ nghề, như bán xe hơi, bán từ điển, kêu gọi đầu tư hay tuyển người, chỉ để nghiên cứu: làm thế nào để thuyết phục người khác.

Ấy cũng là một đề tài mà tui rất muốn tìm hiểu, bởi lẽ từ nhỏ đến giờ tui hay bị người ta dụ dỗ lắm :-D, như trường hợp ở trên chẳng hạn, nên tui muốn biết khi nào và tại sao một người có thể bị thuyết phục, để mà biết cách phòng chống, cũng như là...dụ người khác khi cần :-D.

Cuốn sách nó chỉ 6 chiêu. Tui mới đọc được 2 chiêu thôi. nhận xét thì tuy có vài ví dụ hay thí nghiệm khó kiểm chứng (tui thấy đa số thí nghiệm trong lĩnh vực tâm lý đều vậy, có cảm giác tác giả muốn ra kết quả thế nào thì sẽ có kết quả thế đó, bằng cách điều chỉnh cái context của thí nghiệm là được), nhưng nhìn chung là sách viết có lý, đưa ra được những nhận định khiến tui cảm thấy hết sức hiển nhiên mà sao tui lại không nhận thấy được trước khi đọc sách, và đặc biệt là nó chỉ ra khá lý thú (và tui nghĩ là đúng) "chiến thuật" của khứa bán hàng ở trên, mà tiến sĩ cialdini gọi là : rejection-then-retreat + contrast principle.

Các nhà tâm lý xã hội thấy rằng, một trong những đặc trưng của xã hội loài người, mà các quần thể chủng loài khác không có, đó là luật trả ơn (rule of reciprocation, tui thích gọi là quy luật "bánh ích đi thì bánh quy lại"). Nói một cách tổng quát, luật này cho rằng chúng ta nên đáp trả một cách đàng hoàng những ân huệ mà chúng ta nhận được từ người khác.

Các nhà nhân chủng học kết luận rằng, sở dĩ con người chúng ta tồn tại và phát triển, là vì lần đầu tiên trong lịch sử tiến hóa một cá thể có thể cho đi tài nguyên của mình mà không thật sự mất chúng, bởi lẽ anh ấy biết rằng sẽ nhận lại được những tài nguyên khác từ những cá thể đã nhận tài nguyên của anh.

Điều này giúp cho con người có thể chia sẻ thức ăn, công cụ và kỹ năng, trong một hệ thống của sự hàm ơn. Từ đó dẫn đến sự phân chia lao động, trao đổi thức ăn, dịch vụ và cuối cùng là sự phụ thuộc lẫn nhau để hình thành nên những cộng đồng lớn.

Nói như thế để thấy rằng, luật trả ơn giữ vai trò hết sức quan trọng và có nguồn gốc hết sức lâu đời trong xã hội chúng ta. Sự thật là không có một xã hội loài người nào mà không tuân thủ theo luật trả ơn. Có bạn nào hồi nhỏ đi học mà không được dạy "ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây" không nhỉ? Mỗi người chúng ta đều được dạy dỗ để tuân theo luật trả ơn, và tất cả đều biết những hình phạt cũng như sự chế nhạo mà xã hội dành cho những người vô ơn.

Và bởi vì không ai thích những kẻ chỉ nhận mà không cho, nên chúng ta thường cố gắng hết sức để không rơi vào tình huống đó. Điều này tạo nên sức mạnh vô hình nhưng kinh khủng của luật trả ơn, khiến cho nhiều khi chúng ta, dưới tác động của luật trả ơn, có những phản xạ vô điều kiện hoàn toàn tự động khi đối diện với một tình huống mà ta hàm ơn người khác. Đây cũng là lúc những kẻ như khứa singaporean ở trên nhảy vào để trục lợi.

Có khá nhiều ví dụ và thí nghiệm được đưa ra trong sách để minh chứng cho sức mạnh của luật trả ơn, nhưng tui thích nhất là ví dụ về một "tập đoàn ăn xin" ở bên Mỹ. Không hẳn là bọn này ăn xin, mà chúng là một tổ chức tín ngưỡng, với hàng chục ngàn tín đồ túa ra ở những nơi đông người, để yêu cầu người qua đường quyên góp, cho chúng nó xây...nhà thờ với đền đài. Lúc đầu chúng ta chọn hình thức tập trung ca hát nhảy múa, rồi xin tiền. Nhưng phương thức này không hiệu quả cho lắm, bởi lẽ bọn chúng...Hát không có hay mà ăn mặc thì, vì lý do tín ngưỡng, lại không hấp dẫn.

Thế rồi bọn chúng nghĩ ra một chiêu: trước khi xin tiền, chúng tặng hoa. nói đơn giản: thả con tép, bắt con tôm. Hễ thấy ai trông khờ khờ như tui đi ngang, thì liền có một em hay một bà chạy theo, dúi vào tay người đó một bông hoa. Có hai tình huống xảy ra: anh khờ khờ vui vẻ nhận hoa hoặc là anh khờ khờ trả lại.

Bất kể anh nhận hay trả, thì bọn nó vẫn sẽ lập lại cái điệp khúc "this is our gift for you", rồi cười rất tươi. Khi anh ấy chịu nhận hoa rồi, và toan bỏ đi, thì bọn nó mới ra tay, dựa vào sức mạnh của luật trả ơn, kêu gọi anh ấy đóng góp tiền từ thiện cho tổ chức của chúng. Nếu là bạn, bạn có từ chối hay không? Không biết thế nào, chứ nhờ cách quyên tiền này, bọn chúng đã xây được hơn 300 trung tâm đền đài trên khắp nước Mỹ.

Tui cũng không biết là tui có từ chối hay không, nhưng mà tui cũng đã rơi vào tình huống tương tự một vài lần. Bạn nào mà hay ăn lẩu cá kèo ở khúc bà huyện thanh quan, sẽ biết là ở đó có một đám nhóc bán dạo. Bọn nhóc này cũng có một chiêu rất hay, và hiệu quả (ít nhất là đối với tui :-p): trước khi mời mua đồ, chúng nhào vào bóp vài, đấm lưng cho khách. Mỗi lần mà bọn nó bóp vai là sau đó tui lại nhóp nhép nhai sưng-gôm muốn chết. Đã nói là tui hay bị dụ dỗ mà .

Nói cách khác, những kẻ muốn lợi dụng luật trả ơn để trục lợi thì trước tiên chúng sẽ thực hiện một ân huệ gì đó với nạn nhân, rồi sẽ khai thác từ từ. Tiến sĩ cialdini cũng đưa ra nhiều ví dụ để chứng minh rằng luật trả ơn có thể bị lợi dụng để khiến cho chúng ta tự nhiên mang nợ vào người (kiểu như tui đâu có yêu cầu tụi nó đấm bóp tui đâu huhuhu) và đồng thời tạo ra những trao đổi rất không công bằng (nó đấm bóp có tí xíu mà tui phải trả cho nó 5-10 ngàn. Anyway thiệt ra thì tui cũng muốn giúp tụi nó :-p).

Vậy là khứa singaporean ở trên đã làm gì đó cho tui? Đấm bóp chăng? Không. Khứa này cao tay ấn hơn bọn nhóc bán dạo nhiều. tiếp tục đọc đi rồi sẽ biết.

Có một nguyên tắc căn bản trong nhận thức của con người, nguyên tắc tương phản (contrast principle), ảnh hưởng đến cách mà chúng ta nhìn nhận sự khác nhau giữa hai sự kiện hay sự vật mà chúng ta lần lượt quan sát chúng.

Nói một cách đơn giản, nếu sự vật thứ hai khá khác sự vật thứ nhất, thì chúng ta sẽ có xu hướng thấy nó khác nhiều hơn là sự thật. Nếu chúng ta nâng một vật nhẹ, rồi nâng một vật nặng, chúng ta sẽ nghĩ là vật thứ hai nặng hơn so với trường hợp chúng ta chỉ nâng nó mà không nâng vật nhẹ trước.

Có khá nhiều ví dụ về nguyên tắc tương phản, nhưng tui thích nhất là một truyện cười mà tui từng đọc được. Kiểu như một em nữ sinh lần đầu đi học xa nhà. Sau hơn 3 tháng không liên lạc với ba mẹ, em mới viết một lá thư dài dòng kể về những gì đã xảy ra trong 3 tháng qua. Đại loại như ngay đêm đầu tiên ở ký túc xá, phòng em bị cháy, em phải nhảy ra khỏi cửa sổ, hậu quả là em bị tét đầu và choáng não, gây nhức đầu thường xuyên.

Lúc em bị ngất xỉu sau cú té, có một anh đẹp trai tốt bụng đã chở em vào nhà thương, chăm sóc cho em, rồi sau đó, vì em không còn nhà để ở, đã cho em ở nhờ, trong cái tầng hầm mà anh đang thuê. Cảm động quá, em iu anh ấy luôn, và dự tính sẽ làm đám cưới. Em chưa có định ngày, nhưng mà chắc phải để sau khi em sinh con đã. Àh đúng là em đã có mang. Em cũng khuyên là ba mẹ đừng lo, bác sĩ nói viêm gan siêu vi B, căn bệnh mà bạn trai của em lây cho em, sẽ không lây qua đường mẹ truyền sang con, nên con em sẽ không bị nhiễm virus này đâu.

Rồi cuối cùng, sau khi đã cập nhật cho ba mẹ em những tin tức mới nhất, em mới thừa nhận rằng, phòng em không có bị cháy, em không có bị tét đầu, không bị choáng não, không có mang thai, không có bị nhiễm viêm gan siêu vi B, không có bạn trai, và cũng không có chuẩn bị lấy chồng. Chẳng qua là em chỉ bị điểm D môn lịch sử, điểm F môn hóa học thôi. Rõ ràng là em này có thể dốt hóa, nhưng rất giỏi môn tâm lý học :-p. thử tưởng tượng bạn là ba mẹ em này, rồi bạn sẽ hiểu rõ sức mạnh của nguyên tắc tương phản.

Hồi nãy tui nói là khứa singaporean dùng hai chiêu: contrast principle và rejection-then-retreat. Contrast principle thấy mạnh vậy nhưng cũng chỉ là "súng lục" so với "đại bác" rejection-then-retreat thôi bạn ơi.

Sức mạnh của rejection-then-retreat nằm ở chỗ người bị dụ thường không biết là họ bị dụ, và thậm chí còn cảm thấy thỏa mãn nữa chứ (thật sự là tui cảm thấy như thế sau khi bị mất tiền huhuhu). Cụ thể thế nào? Đơn giản thế này: đưa ra một yêu cầu lớn (biết chắc là sẽ bị từ chối), rồi sau đó rút lại, đưa ra một yêu cầu nhỏ hơn nhiều (nhưng thực ra chính là yêu cầu thực sự muốn được đáp ứng từ ban đầu).

Thế thì rejection-then-retreat có liên quan gì đến luật trả ơn, mà tui đã giới thiệu dài dòng văn tự ở trên? Có đó. Khứa singaporean đã làm một ân huệ cho tui: khứa nhượng bộ.

Thay vì kêu tui mua $10, giờ khứa chỉ yêu cầu mua $2, và dưới tác động của nguyên tắc tương phản, $2 lúc đó lại càng bé hơn $2 thật. Khứa nhượng bộ, nên tui nhượng bộ, một cách vô thức luôn, "thôi thì có $2, mua quách đi cho rồi". Mà mua xong tui vẫn không cảm thấy bị lừa, thậm chí còn thấy thỏa mãn bởi vì thay vì phải trả $10, giờ chỉ phải trả $2.

Cái chiêu nhượng bộ, lùi một bước để tiến ba bước này hiệu quả vô cùng. Có nhiều ví dụ trong cuộc sống thể hiện chiêu này, bạn nào rảnh comment đưa ra ví dụ đi :-p.

Điều cuối cùng tui muốn nói là, một khi kết hợp rejection-then-retreat với contrast principle nữa, thì rất khó để mà từ chối. Làm sao để từ chối bây giờ? Trong sách có chỉ :-p.

Nguồn: Thai on stuff that matters

Tuesday, February 10, 2009

Nhà khoa học học cách viết đề cương nghiên cứu

Chuyện viết đề cương nghiên cứu đối với các ngành khoa học thực nghiệm như y học là một nghệ thuật. Ở bên này, chúng tôi từng tham gia các khóa học này trước đây, và nay thì đến lượt mình truyền đạt cho người khác và thế hệ trẻ hơn. Viết đề cương nghiên cứu còn là một kĩ năng cơ bản của một nhà khoa học. Điều đáng buồn là những chuyện cơ bản này phải cần đến sự hướng dẫn của một giáo sư ngoại quốc. Nhưng có còn hơn không. Có được một khóa học như tường thuật trong bản tin sau đây cũng là một đóng góp tích cực. Tuy nhiên, kinh nghiệm tôi cho thấy, một khóa học 2 ngày cũng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa” mà thôi, chứ học viên vẫn chưa thể viết được một đề cương chỉnh chu theo chuẩn mực của ngoại quốc được. Viết được một đề cương nghiên cứu hoàn chỉnh đòi hỏi kĩ năng tiếng Anh và kinh nghiệm thực tế, những kĩ năng mà phần lớn các nhà khoa học trong nước còn thiếu.

Một khó khăn nữa là phải thay đổi tư duy và cách làm cũ. Tôi đọc nhiều đề cương nghiên cứu (chỉ trong ngành y thôi) thì thấy tất cả đều có một cấu trúc rất giống nhau và … lạ lùng. Phần đầu là đặt vấn đề, kế đến là tổng quan tài liệu, rồi sau cùng là phương pháp nghiên cứu. Phần tổng quan tài liệu là “vui” nhất, vì người ta viết “tràng giang đại hải” về những chuyện rất căn bản, giống như lặp lại những gì sách giáo khoa viết (mà trong y khoa thì sách giáo khoa thì lúc nào cũng lạc hậu), kể cả chẩn đoán, phác đồ điều trị, v.v… Nói chung là chẳng liên quan đến mục tiêu nghiên cứu. Trong khi phần tổng quan tài liệu tào lao dài cả 5-6 trang thì phần phương pháp thì chỉ 2 hay 3 trang. Các đề cương bên Mĩ hay Úc thì ngược lại: phần dẫn nhập chỉ cao lắm là 3 trang, nhưng phần phương pháp thì dài gấp 3 lần phần dẫn nhập, và phải nói thêm cả phần “track record” của nhà khoa học, tính khả thi, kết quả kì vọng, v.v… Rồi còn có những qui định về mục tiêu nghiên cứu phải có động từ.

Tôi không hiểu sao lại có cấu trúc như thế. Nhưng khi hỏi mấy em thì họ nói “cấp trên” yêu cầu như thế, nên phải viết như thế. Thật là quái đản. Những công thức như thế chỉ có hiệu quả duy nhất là làm thiêu chột sáng tạo của nghiên cứu sinh. Một đề cương như thế thì làm sao nói đến chuyện “hội nhập quốc tế” được. Tôi không biết mấy ông Mĩ giảng dạy về viết đề cương cho đồng nghiệp Việt Nam có biết chuyện này không. Nếu biết chắc họ sẽ rất ngạc nhiên và … mỉm cười.

Mấy năm nay tôi thường viết và nói về cách viết một bài báo khoa học, và có thể tự hào là đã giúp được nhiều bạn trẻ về lĩnh vực này. Tuy nhiên, chỉ giúp họ khi họ công bố quốc tế, chứ còn công bố ở VN thì kẹt ngay, vì qui định ở trong nước rất khác với ngoài này. Có em còn nói với tôi là viết 2 bản: một bản để công bố quốc tế và một bản cho các cấp cao ở trong nước. Thật là một phí phạm thì giờ ghê gớm!

À, mới đây tôi còn nghe chuyện rất lạ lùng là nếu thí sinh nào muốn có bảng điểm trong mấy năm học đại học để làm hồ sơ xin học bổng nước ngoài thì phải trả vài chục triệu đồng (tức vài ngàn đô la Mĩ) như là một chi phí cho trường đại học. Tôi vẫn bán tín bán nghi, chẳng biết có thật hay không, nhưng có người khẳng định là thật. Nếu thật thì giá gì mà cắt cổ lột da như thế ?



====

http://vietnamnet.vn/khoahoc/2009/01/823771/

Nhà khoa học học cách viết đề cương nghiên cứu

Hơn 300 nhà khoa học tại Hà Nội và TP.HCM vừa được học cách "Xây dựng đề cương nghiên cứu và công bố công trình khoa học". Nhờ đó, cải thiện tình hình nhiều đề cương nghiên cứu chất lượng kém, khó xin tài trợ để nghiên cứu.

Từ thực tế có nhiều đề cương nghiên cứu chất lượng còn kém, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia VN (NAFOSTED) vừa phối hợp với ĐH Missouri (Mỹ) tổ chức hội thảo “Xây dựng đề cương nghiên cứu và công bố công trình khoa học” vào hai ngày 13 và 14/1 tại TP.HCM. Tại hội thảo, các giáo sư (GS) của ĐH Missouri đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm nhằm hỗ trợ, hướng dẫn các nhà khoa học VN các vấn đề về kĩ thuật khi viết một đề cương nghiên cứu một cách chi tiết, làm sao để nó có tính cạnh tranh nhất, theo chuẩn quốc tế.

“Thực ra việc xây dựng một đề cương nghiên cứu rất quan trọng. Một nhà khoa học viết đề cương nghiên cứu, mục đích cuối cùng là phải có được tiền tài trợ để nghiên cứu. Không có tiền sẽ không có nghiên cứu.”- ông Phan Hồng Sơn, Giám đốc điều hành NAFOSTED, chia sẻ.

Theo ông Sơn, hội thảo được mở ra nhằm cải thiện thực tế hiện nay là có nhiều đề cương nghiên cứu chất lượng còn kém, thậm chí nhiều vấn đề rất cơ bản nhưng vẫn bị nhầm lẫn. “Mỗi nhà tài trợ khi đưa ra một chương trình tài trợ, bao giờ họ cũng nói rõ các yêu cầu, nhưng nhiều khi các nhà khoa học không chú ý mà cứ nghĩ ra gì, viết ra cái đấy rồi nộp cơ quan tài trợ đó, mà không biết rằng nó không phù hợp”, ông đưa ra ví dụ.

Bên cạnh chia sẻ các vấn đề về cách viết một bản đề cương nghiên cứu khoa học; ý tưởng khoa học và phương pháp giải quyết vấn đề cần nghiên cứu; viết dự toán kinh phí và giải trình mục chi… hiệu quả, các GS Mỹ cũng dành thời gian hướng dẫn, trao đổi trực tiếp về từng đề cương nghiên cứu cụ thể do các nhà khoa học VN ấp ủ và mang đến Hội thảo. Các bản đề cương nghiên cứu xuất sắc nhất được hình thành trong quá trình hội thảo có thể được gợi ý gửi các quỹ khoa học quốc tế để yêu cầu tài trợ.

Kỹ thuật xây dựng một bài báo công bố kết quả nghiên cứu để dễ được các tạp chí khoa học quốc tế chấp nhận đăng tải cũng được các GS Mỹ đưa ra chia sẻ và thảo luận.

Được biết trước đó, hội thảo với nội dung tương tự đã được tổ chức tại HN, thu hút hơn 100 nhà khoa học trong nước tham gia. Hội thảo lần này thu hút hơn 200 người, đối tượng chủ yếu là các nhà khoa học trẻ từ các trường ĐH, viện nghiên cứu..

L.Quỳnh

Nhân câu chuyện chức danh giáo sư đại học: Bàn về vấn đề dịch thuật và đánh giá năng suất khoa học

Nguyễn Văn Tuấn

Câu chuyện bắt đầu từ bài báo do kí giả Hoàng Lê viết trên tờ báo điện tử VietNamNet ca ngợi thành tích vượt bực của Phan Thị Hà Dương: “Ở tuổi 26, ngay khi vừa bảo vệ xuất sắc luận án tiến sỹ, chị đứng đầu trong kỳ thi tuyển vào vị trí Phó Giáo sư của ĐH Paris 7. Đến nay, chị vẫn là người phụ nữ Việt trẻ nhất đạt thành tích này.” Thật ra cũng chẳng ai dám chắc chắn đây là phụ nữ Việt trẻ nhất có chức danh giáo sư, nhưng bài báo đã được nhiều báo giấy khác in lại với những cái tít ấn tượng. Chẳng hạn như Tiền Phong chạy cái tít “Người phụ nữ Việt trẻ nhất đoạt học hàm Phó giáo sư” (Tiền Phong, 21/11/2005) và nhiều lời ca ngợi nồng thắm …

Mới 26 tuổi mà được phong làm phó giáo sư tại một đại học có tầm cỡ, vượt qua hàng trăm ứng viên khác, thì quả là quá tài giỏi. Nhưng bản chất của người trí thức là hoài nghi. Có quả thật thông tin mà bài báo cung cấp là đúng với thực tế, hay lại là một ca ngợi vẽ chim thành phượng như bao nhiêu bài báo khác? Tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng, hiện đang công tác ở Nhật, tò mò kiểm tra thì thấy bài báo của Hoàng Lê có nhiều thông tin không đúng với sự thật, như chức danh thật của Hà Dương là Maitre de Conferences, tương đương với chức danh Assistant Professor (theo hệ thống khoa bảng bên Mĩ) như trên trang nhà của bộ môn mà Hà Dương đang công tác ghi rõ ràng. Nguyễn Đình Đăng viết: “Là một người Việt Nam, tôi rất mừng vì dòng giống con rồng cháu tiên của chúng ta có nhiều người học cao và tài giỏi như TS Phan Thị Hà Dương, Ngô Bảo Châu, v.v. Nhưng chụp cho “maître de conférences” cái mũ “phó giáo sư” là một sự tùy tiện có lẽ chỉ nước Nam ta mới có. Việc đánh tráo khái niệm này có thể làm độc giả hiểu sai thực chất của một nhà khoa học trẻ, bảo vệ tiến sỹ tháng 1 năm 1999, và sau đó 8 tháng nhận biên chế maître de conférences (giảng viên). Cần lưu ý rằng khi nhận vị trí này cô chưa có một công trình nào được công bố trên tạp chí chuyên ngành vì bài báo đầu tiên của cô đăng tại tạp chí chuyên ngành là vào năm 2001 [..]. Sau khi bảo vệ tiến sỹ, cô đã đăng 8 công trình nghiên cứu trên tạp chí quốc tế trong vòng 4 năm (từ năm 2001 đến 2004). Đó là một thành tích đáng khen. Tuy nhiên, không biết ở Việt Nam ta thế nào, chứ ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản ngày nay không thể có chuyện một người mới 26 tuổi và chỉ với số lượng (chưa nói đến chất lượng) 8 bài báo được đăng (hoặc đang chờ được đăng) lại có thể trở thành phó giáo sư tại một đại học danh tiếng.”

Với giọng văn tương đối gay gắt, bài viết của Nguyễn Đình Đăng đã gây ra một cuộc tranh luận khá căng thẳng trên internet chung quanh những vấn đề được nêu lên. Một số người bày tỏ ý kiến ngầm ủng hộ nội dung bài báo của Hoàng Lê và quay sang tố cáo Nguyễn Đình Đăng đã từ chuyện bé xé thành chuyện to; một số thì xoay quanh những khó khăn trong việc chuyển ngữ các chức danh khoa bảng từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và về lại tiếng Việt; một số khác thì chỉ ra đây cũng chỉ là một trong số hàng loạt những bài đánh đồng cá nhân quá trớn.

Những tranh luận này xảy ra ngay sau khi Nhà nước vừa ra quyết định công nhận chức danh giáo sư và phó giáo sư cho 339 nhà khoa học (VietNamNet 10/11/2004); và cũng như các lần trước, việc xét phong chức danh lần này cũng gây ra vài tranh luận, nghi ngờ. Có ý kiến cho rằng một số vị được tiến phong chức danh này chưa xứng đáng với khả năng thật trong hoạt động khoa học, và cũng có người đặt vấn đề tiêu chuẩn được được công nhận chức danh giáo sư. Bàn về vấn đề tiêu chuẩn, Giáo sư Đỗ Trần Cát, Tổng thư kí Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho biết Việt Nam phải hạ tiêu chuẩn thấp xuống mới có giáo sư! Thành ra, người viết bài này cảm thấy câu chuyện chung quanh bài báo của Hoàng Lê và Nguyễn Đình Đăng còn đặt ra một số vấn đề khá thời sự ở nước ta liên quan đến chức danh khoa bảng và các tiêu chuẩn đánh giá công trình nghiên cứu khoa học cũng như đề bạt nhà khoa học.

Thứ nhất là sự khác biệt của hệ thống chức danh khoa bảng giữa Mĩ, Pháp và Việt Nam. Ở Mĩ, thông thường, sau khi sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ và sau ít nhất là 2 năm nghiên cứu hậu tiến sĩ, họ có thể xin được đề bạt vào ngạch giáo sư. Có ba bậc giáo sư xếp theo thứ tự thấp nhất đến cao nhất: Assistant Professor, Associate Professor, và Professor. Còn ở Pháp, cán bộ giảng dạy hay nghiên cứu trong các trường đại học chỉ có 2 bậc: Maître de ConférencesProfesseur de Université. Ở Việt Nam, hệ thống tuy phức tạp hơn hệ thống của Mĩ và Pháp, nhưng nói chung cũng có thể chia thành 3 bậc: giảng viên, phó giáo sư giáo sư. Nếu cần nói thêm, tôi muốn nói rằng hệ thống ở Anh và Úc có đến 4 chức vụ chính: Lecturer, Senior Lecturer, Associate Professor, và Professor.

Đến đây thì có vấn đề tương đương giữa các chức vụ trên đây. (Ở đây, tôi chỉ nói “tương đương” trên danh xưng mà thôi, chứ chưa nói đến tương đương về chức vụ và trách nhiệm). Nếu so sánh giữa Việt Nam và Mĩ thì chúng ta có thể phân cấp khá dễ dàng: Giảng viên = Assistant Professor, Phó giáo sư = Associate Professor, và Giáo sư = Professor.

Nhưng nếu so giữa hệ thống của Pháp với Việt Nam (hay Mĩ) thì sao? Vì Pháp chỉ có 2 bậc mà Việt Nam và Mĩ có đến 3 bậc, thành ra có thể lí giải rằng Maître de Conférences của Pháp có thể tương đương với Assistant Professor hay Associate Professor. Và, cũng dùng theo cách phân cấp đó, người ta vẫn có thể nói một Professeur của Pháp có thể tương đương với Associate Professor hay Professor của Mĩ!

Ở Anh và Úc, các trường đại học vẫn khẳng định rằng chức Lecturer của họ tương đương với Assistant Professor của Mĩ và Maître de Conférences của Pháp; còn Senior Lecturer của Úc thì tương đương với Associate Professor của Mĩ. Thế thì sự tương đương giữa hai chức danh Associate Professor / Professor của Anh và Associate Professor / Professor của Mĩ thì sao? Không có câu trả lời chính thức, bởi vì còn tùy thuộc vào … lí lịch khoa học.

Thứ hai là những khó khăn về dịch thuật. Ngày nay, chúng ta đều nhất trí dịch chữ Professor (hay tiếng Pháp, Professeur) là Giáo sư. Chúng ta cũng nhất trí rằng Associate Professor dịch là Phó giáo sư. Thực ra, đây cũng chỉ là một cách dịch tương đối mà thôi, chứ — như tôi đã từng phát biểu trước đây — tuy mang danh là “phó” nhưng trong thực tế những người mang chức danh Associate Professor chẳng làm phó cho giáo sư nào cả.

Nhưng khó khăn nhất vẫn là chức danh Assistant Professor (Mĩ) nên dịch sang tiếng Việt là gì ? Có người đề nghị Assistant Professor nên dịch là trợ lí giáo sư, nhưng tôi e rằng cách dịch này không mấy chính xác, bởi hai lẽ: (i) trợ lí giáo sư là một chức vụ ngoài khoa bảng tương đương với tiếng Anh Professorial Assistant; và (ii) tuy mang danh là Assistant (phụ tá), nhưng trong thực tế những người mang chức danh Assistant Professor chẳng phụ tá cho giáo sư nào cả, mà là những nhà nghiên cứu độc lập, hoàn toàn có tư cách chủ trì các công trình nghiên cứu. Như nói trên, Assistant Professor là một chức vụ khoa bảng thấp nhất trong ba bậc giáo sư, và những người mang chức danh này là những nhà khoa bảng đang trong giai đoạn củng cố địa vị chuyên môn để chuyển tiếp lên một cấp bậc cao hơn. Do đó, có lẽ Assistant Professor nên dịch là “Giáo sư dự khuyết”. Thú thật, ngay cả tôi cũng không cảm thấy hài lòng với cụm từ này (cũng như chưa hài lòng với chức danh Phó giáo sư, nhưng thiết nghĩ tất cả chuyển ngữ về chức danh chỉ là … tương đối.

Càng khó hơn nữa là chức danh Maitre de Conferences (Pháp). Nếu xét trên danh xưng thì chức danh này không có chữ Professeur và do đó không thể dịch là giáo sư được. Nhưng xét trên thứ bậc đẳng cấp thì chức vụ này chỉ thấp hơn Professeur một bậc (bởi vì đại học Pháp chỉ có 2 bậc “giáo sư”), vậy có nên dịch Maitre de ConferencesPhó giáo sư không ? Như đã đề cập trên, chức danh Maitre de Conferences tương đương với Assistant Professor, mà cũng có thể tương đương với Associate Professor, cho nên cả giảng viênPhó giáo sư đều có thể thích hợp ! Như vậy, vấn đề dịch các chức danh khoa bảng có khi cần phải xét đến chức vụ và thành tích khoa học của nhà khoa học.

Những khó khăn trên dẫn đến vấn đề thứ ba là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng của một nhà khoa học và chất lượng công trình nghiên cứu khoa học. Các chức danh và chức vụ khoa bảng như giảng viên và giáo sư thường thường do hội đồng khoa bảng của trường đại học phê chuẩn và bổ nhiệm. Hội đồng khoa bảng dựa vào 4 tiêu chuẩn chính đề làm cơ sở cho việc phê chuẩn và bổ nhiệm : thành tích hoạt động khoa học, giảng dạy và cống hiến vào việc quản trị phân khoa đại học, khả năng thu hút tài trợ cho nghiên cứu, và hoạt động cộng đồng. Trong 4 tiêu chuẩn này, thành tích hoạt động khoa học được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất.

Thành tích hoạt động khoa học được đánh giá bằng các tiêu chí như số lượng và chất lượng bài báo khoa học đã công bố, số lượng bằng phát minh (patents of invention), uy danh và sự công nhận của giới chuyên môn trong ngành. Không có trường nào có qui định cụ thể ứng viên phải có bao nhiêu bài báo khoa học để được đề bạt, nhưng thông thường, những con số được “hiểu ngầm” là giáo sư dự khuyết phải có từ 5 bài báo trở lên, phó giáo sư thì ít nhất là 20, và giáo sư thì ít nhất là 50.

Nhưng số lượng công trình không nói lên được chất lượng của công trình nghiên cứu. Hội đồng khoa bảng thường dựa vào hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor) của tập san mà bài báo khoa học được đăng. Hệ số này thực chất là số lần trích dẫn (citation), tính trung bình, cho những bài báo đã đăng trên tập san trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như năm 2003 và 2004 tập san đăng 200 bài báo khoa học, và năm 2005 có 400 lần trích dẫn các bài báo trong hai năm qua, thì hệ số ảnh hưởng được ước tính là 400/200 = 2. Nói chung, tập san nào có hệ số ảnh hưởng cao hơn 5 được xem là có uy tín cao.

Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tập san cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số ảnh hưởng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học). Vả lại, hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tập san chứ không hẳn phản ánh ảnh hưởng của bài báo trên tập san. Trong lịch sử khoa học, không ít công trình có ảnh hưởng lớn (hiểu theo nghĩa được nhiều người trích dẫn và tham khảo) nhưng chỉ xuất hiện trên các tập san với hệ số ảnh hưởng thấp, hay thậm chí chưa bao giờ công bố chính thức trên một tập san ! Cho nên một cách đánh giá chất lượng khác là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo (citations) mà nhà khoa học đã công bố. Số lần trích dẫn nhiều cũng có nghĩa là công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành. Ngược lại, nếu nhà khoa học dù có hàng trăm bài báo, nhưng không ai trích dẫn thì những bài báo này cũng chỉ là một đống rác chữ nghĩa vô dụng.

Bài học

Qua những tranh luận chung quanh bài báo về Phan Thị Hà Dương trên VietNamNet, chúng ta cũng có thể rút ra một vài kinh nghiệm về việc đánh giá độ tin cậy và tính chính xác của thông tin. Một bài học hiển nhiên cho những người viết báo là cần phải kiểm tra thông tin cẩn thận để tránh nhầm lẫn. Internet là một phương tiện quan trọng trong việc kiểm tra thông tin. Với hệ thống truy tìm thông tin của Google, việc rà soát chức danh và chức vụ cũng như quá trình hoạt động nghiên cứu của một nhà khoa học trong các đại học Tây phương thật là dễ dàng. Có thể nói bất cứ đại học nào ở các nước Tây phương cũng đều có một trang web, và trong trang web đó có danh sách giáo sư với những chức vụ khá rõ ràng. Muốn biết chuyên môn của một giáo sư là gì, hay bao nhiêu công trình khoa học gắn liền với tên của vị giáo sư cũng chỉ cần năm ba phút là cũng có được.

Tuy nhiên không phải thông tin nào trên internet, nhất là các trang web mang tính phi chính thức (unofficial), đều có độ chính xác cao. Rất nhiều thông tin trong các trang web như Wipipedia, tuy mang danh là từ điển bách khoa cho đại chúng, chưa nhiều sai sót nghiêm trọng. Thành ra, không bao giờ phụ thuộc vào thông tin của một trang web, cho dù trang web đó là của trường đại học ! Nếu cần thiết, nhà báo vẫn có thể liên lạc với những chuyên gia có thẩm quyền để rà soát thông tin và kiểm tra lại các thông tin trên internet.

Người Tây phương có câu “Đừng bao giờ đánh giá cuốn sách qua bìa sách” (never judge a book by its cover), cũng giông giống như chúng ta hay nói “không nên xem mặt đặt tên”. Dùng cách nói đó, thiết tưởng tôi cũng có thể nói không nên đánh giá một nhà khoa học qua trường đại học hay viện nghiên cứu mà nhà khoa học công tác hay tốt nghiệp. Trong thực tế, không ít giáo sư trong các đại học nổi tiếng ở Tây phương, kể cả giáo sư gốc Việt, cũng rất xoàng xĩnh, chứ chẳng phải là giáo sư hạng “đẳng cấp quốc tế” gì cả.

Ở Việt Nam ta, tiêu chuẩn để tiến phong giáo sư đang là một vấn đề thời sự. Có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn còn quá thấp, nhưng cũng có ý kiến tiêu chuẩn quá cao. Trong một lần trả lời phỏng vấn đăng trên VietNamNet ngày 11/3/2004 (http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2004/03/54931), Thư kí hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (Giáo sư Đỗ Trần Cát) cho biết : « Mỗi ứng viên cho chức danh giáo sư phải có 2 điểm - tương đương với hai công trình - đăng trong các tạp chí uy tín », và mỗi ngành chỉ có hai « tạp chí uy tín » ở trong nước, hiểu theo nghĩa « nếu đăng ở đấy thì nó khó, chất lượng cao hơn. Còn việc chọn đâu là hai tạp chí uy tín của mỗi ngành thì do hội đồng ngành đề xuất, hội đồng thường trực sẽ thông qua. Còn các bài báo đăng ở tạp chí khoa học ngoài nước tất nhiên là không hạn chế rồi ». Nói cách khác, theo qui định này, để đề bạt chức vụ giáo sư, ứng viên chỉ cần có 2 bài báo khoa học ! Tôi nghĩ những tiêu chuẩn này chẳng những quá thấp, mà còn chưa đủ vì, như đã nói trên, con số bài báo không thể phản ánh chất lượng nghiên cứu.

Bất cứ thời nào, bất cứ ở đâu, bất cứ ngành nào đều có những rác rưởi được đánh bóng và xuất hiện dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu khoa học”. Ngày nay, trên thế giới có khoảng 108.000 tập san gọi là “khoa học”, và con số vẫn còn tăng hàng năm. Thành ra, một công trình nghiên cứu dù cho có chất lượng thấp cỡ nào đi nữa, và nếu tác giả kiên trì theo đuổi, thì nó cũng được in trong một tập san nào đó. Herbert Simon (giải Nobel kinh tế học) từng nói một câu chí lí: Sự dồi dào thông tin tạo nên tình trạng thiếu tập trung (“A wealth of information creates a poverty of attention”). Theo phân tích của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information, ISI) có khoảng 55% các bài báo khoa học trên thế giới không bao giờ được ai trích dẫn, không bao giờ được ai (kể các chính tác giả) tham khảo sau 5 năm công bố ! Ngay cả trong số được trích dẫn, cũng chỉ rất … lèo tèo. Chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Điều này có nghĩa là không không thể nào đánh giá khả năng của nhà khoa học qua con số lượng bài báo, và càng không đánh giá công trình khoa học chỉ vì công trình đã được công bố, mà phải xét đến số lần trích dẫn.

Xã hội có quyền đặt kì vọng cao vào những người mang chức danh “giáo sư”, bởi vì họ là một phần của bộ mặt của khoa học Việt Nam. Người dân muốn thấy những người mang chức danh giáo sư phải có khả năng tương xứng với đồng nghiệp quốc tế. Trong chiều hướng hội nhập quốc tế có lẽ đã đến lúc chúng ta xem xét lại các tiêu chuẩn chất lượng trong việc xem xét đề bạt giáo sư ở nước ta. Đành rằng cũng cần phải xem xét đến các điều kiện mang tính địa phương trong khi đề bạt giáo sư, nhưng các hoạt động khoa học thì lại mang tính quốc tế, và không có lí do gì các thước đo khách quan mà đa số nước trên thế giới đang sử dụng không áp dụng cho nước ta.