Thursday, April 9, 2009
“Kỹ năng mềm” cho nhà khoa học
James
---------------------------------------------------------------------------------------
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/03/ky-nang-mem-cho-nha-khoa-hoc.html
Hồi cuối năm 2008, trong một chuyến đi nói chuyện ở VN, tôi có dịp ra Hà Nội nói chuyện ở Viện lão khoa về đề tài viết bài báo khoa học. Phạm Hiệp là người phụ trách bản tin của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội có nhã ý phỏng vấn tôi những chuyện chung quanh chủ đề này. Hôm đó, chúng tôi (Hiệp, NĐP bên Tia Sáng, và tôi) gặp nhau trong một quán cà phê nhỏ, mà NĐP và PH nói quán này là "quán tủ" của tụi sinh viên, và chắc chính vì thế mà cách thiết trí của quán cũng có tính văn hóa. Quán chỉ cách khách sạn Melia (nơi tôi ở) có vài bước đi bộ. Chúng tôi ngồi đó gần cả buổi sáng chỉ nói chuyện ... thế sự khoa học. Một kỉ niệm khó quên. Thật ra, tôi thấy Hà Nội cũng có cái nét quyến rũ của nó, nhưng còn vụ ăn uống thì chắc tôi cần phải có thời gian mới thích nghi được. Mà thôi, tôi lan man mất rồi. Mời các bạn theo dõi cuộc nói chuyện giữa chúng tôi ...
===
Kỹ năng mềm là khái niệm còn rất mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Nhà khoa học sẽ “chuyên nghiệp” và “thành công” hơn khi họ được trang bị kỹ năng này. Để hiểu rõ hơn về khia niệm này, Bản tin ĐHQGHN đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Văn Tuấn - Nghiên cứu viên cao cấp Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan (Úc).
Trong tháng 12 vừa qua, ông có tham gia dạy một số khóa học liên quan đến các kĩ năng trình bày, viết báo cáo... cho các bác sỹ, dược sỹ tại Hà Nội. Ông có thể nói rõ hơn về khóa học này ?
Thật ra, đó chỉ là những buổi seminar về cách viết và công bố một bài báo khoa học trên các tập san y học quốc tế, và cách trình bày một nghiên cứu khoa học trong các diễn đàn khoa học quốc tế. Những chủ đề này nằm trong một loạt bài tôi đã viết từ trên chục năm qua, và nay có dịp trình bày trước các đồng nghiệp trong nước.
Trong bài nói chuyện về cách viết bài báo khoa học, tôi nói về qui trình vận hành của một tập san khoa học, đằng sau quyết định đăng hay không một công trình nghiên cứu, cách cấu trúc một bài báo khoa học và trình bày dữ liệu như biểu đồ và số liệu sao cho thuyết phục, logic, và sau cùng là cách viết cũng như dùng chữ cho chính xác và hay.
Trong bài nói chuyện về cách trình bày một nghiên cứu khoa học, tôi nói về những nguyên tắc cơ bản trong việc chuyển giao thông tin khoa học đến người nghe một cách hữu hiệu, những nguyên tắc về việc chọn màu sắc sao cho thích hợp với từng loại diễn đàn, cách chọn chữ và thiết kế biểu đồ cũng như bảng số liệu sao cho gọn nhẹ nhưng nói lên được thông điệp mình muốn chuyển giao đến người nghe.
Nói tóm lại tôi chỉ nói về những kĩ năng cơ bản của một nhà khoa học. Vì có cơ duyên phục vụ trong ban biên tập của nhiều tập san khoa học trên thế giới, nên tôi hiểu được cách vận hành và làm việc của các tập san này, vì thế tôi có thể trình bày những vấn đề mà người nước ngoài họ không thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước.
Ðằng sau quyết định đăng một bài báo bao gồm những gì?
Khi bản thảo bài báo khoa học được nộp cho một tập san, tổng biên tập (editor-in-chief) đọc qua phần tóm lược (abstract), và dựa vào chuyên ngành của bài báo, sẽ giao cho một phó biên tập (associate editor) phụ trách, và người này chính là người có thẩm quyền quyết định “số phận” của bài báo. Thông thường, phó biên tập đọc qua bài báo, rồi quyết định xem có xứng đáng để gửi đi phản biện (peer review). Nếu bài báo có tiềm năng và xứng đáng, phó biên tập sẽ chọn 2 - 3 chuyên gia phản biện (phần lớn những chuyên gia này nằm trong ban biên tập của tập san). Sau 4 tuần (thời gian trung bình), các chuyên gia này gửi báo cáo phản biện cho phó biên tập. Nếu có một chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối bài báo thì thông thường phó biên tập sẽ gửi thư cho tác giả biết rằng tập san từ chối công bố bài báo.
Nếu tất cả chuyên gia phản biện không từ chối và yêu cầu sửa đổi, thì phó biên tập sẽ chuyển các phản biện này cho tác giả để chỉnh sửa (kể cả làm thêm thí nghiệm, thêm phân tích…). Sau khi chỉnh sửa, tác giả gửi lại bản thảo mới (và kèm theo những trả lời cho các câu hỏi mà chuyên gia phản biện nêu) cho phó biên tập. Nếu phó biên tập thấy tác giả trả lời đầy đủ, thì sẽ quyết định đăng hay không đăng. Nếu phó biên tập thấy tác giả chưa trả lời đầy đủ, thì tất cả hồ sơ sẽ chuyển cho các chuyên gia phản biện một lần nữa, và chu trình bình duyệt lại bắt đầu. Thông thường, một bài báo phải qua 2 - 3 lần phản biện, nhưng cũng có trường hợp mà tác giả phải kinh qua 6 lần phản biện. Một khi bài báo đã được chấp nhận hay không chấp nhận cho công bố, phó biên tập sẽ thông báo quyết định của mình cho tổng biên tập biết. Tính trung bình, thời gian từ lúc nộp bài đến khi quyết định cho công bố tốn khoảng 6 tháng. Nhưng cũng có khi thời gian kéo dài cả 1 hay 2 năm. Cố nhiên, trong các trường hợp bài báo được đánh giá là không xứng đáng ngay thì lúc ban đầu thì thời gian đi đến quyết định chỉ trong vòng 1 tuần.
Như vậy nhà khoa học ngoài khả năng chuyên môn cần phải có những kiến thức và kĩ năng nào khác?
Bạn đang nói đến kĩ năng mềm phải không? Theo tôi thì có 2 kĩ năng mềm mà các nhà khoa học Việt Nam cần phải cải tiến và học hỏi, đó là: Kĩ năng thông tin và ngoại giao. Kĩ năng thông tin ở đây là khả năng truyền đạt thông tin khoa học đến đồng nghiệp trong và ngoài nước qua viết và nói chuyện. Viết trên các tập san khoa học quốc tế đòi hỏi những kĩ năng về tiếng Anh (vì phần lớn tập san khoa học ngày nay sử dụng tiếng Anh) và cách biện luận, mà các đồng nghiệp trong nước đều rất yếu. Ðiều này thì có thể hiểu được vì tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ và theo kinh nghiệm của tôi, ngay cả những người đã từng đi du học ở các nước nói tiếng Anh cũng chưa thể viết hoàn chỉnh một bài báo khoa học vì làm được việc này đòi hỏi một thời gian “cọ sát” khá lâu mới trở thành chuyên nghiệp được. Ngay cả những nghiên cứu sinh mà tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ cũng khó có thể viết một bài báo khoa học một cách chỉn chu.
Nói chuyện trong các hội nghị khoa học đòi hỏi những kĩ năng chẳng những về ngôn ngữ mà còn nghệ thuật. Tôi đã thấy nhiều đồng nghiệp trong nước nói chuyện trong các hội nghị khoa học quốc tế, và họ phạm phải những lỗi lầm hết sức cơ bản như chọn màu sắc không thích hợp, chọn font chữ sai, sử dụng quá nhiều hoạt hình màu mè, diễn giải không thông và logic, cách nói quá đơn điệu, không biết cách trả lời người chất vấn, v.v.… Có người nhầm lẫn giữa trả lời chất vấn và lên lớp, nên biến bài nói chuyện thành một buổi trao đổi thiếu tính chuyên nghiệp (nếu không muốn nói là khôi hài)!
Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.
Có nhiều nhà khoa học trong nước nghĩ rằng họ công bố kết quả nghiên cứu và thế là xong. Nhưng khoa học ngày nay cạnh tranh ác liệt, cạnh tranh để được ghi nhận. Trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào cũng có nhiều người cùng làm, và việc tương tác với đồng nghiệp để quảng bá nghiên cứu của mình là một kĩ năng rất cần thiết để thành đạt trong khoa học ngày nay. Tôi thấy đây cũng là một điểm yếu nhất của nhiều đồng nghiệp trong nước vì họ hầu như chẳng có ý niệm gì về lobby trong khoa học.
Lobby trong khoa học là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Ông có thể nói rõ hơn?
Nói ra ý này tôi cũng nghĩ làm nhiều đồng nghiệp ngạc nhiên, vì ít ai nghĩ rằng trong hoạt động khoa học mà cũng có lobby và vận động. Chúng ta có câu "hữu xạ tự nhiên hương", với hàm ý nói nếu công trình nghiên cứu của mình tốt thì đồng nghiệp sẽ trích dẫn và ghi nhận. Nhưng rất tiếc là ngày nay lí tưởng đó khó tồn tại trong thực tế khoa học, ít ra là trong ngành y học mà tôi đang làm. Trong khoa học, luôn có nhiều nhóm cùng làm nghiên cứu về một đề tài, nhưng tại sao có những nhà khoa học hay công trình khoa học được ghi nhận và nổi tiếng hơn các đồng nghiệp và công trình khác. Ngoài lí do về chất lượng và ý nghĩa của nghiên cứu, tôi nghiệm ra một phần của câu trả lời là kĩ năng ngoại giao của nhà khoa học. Do đó, khi nói lobby ở đây, tôi muốn nói đến những kĩ năng làm cho công trình nghiên cứu của mình được ghi nhận, được đề cập và trích dẫn, và qua đó gây ảnh hưởng trong chuyên ngành.
Muốn cho công trình của mình được nhiều người biết đến thì nhà khoa học phải biết cách “chào hàng” ý tưởng và công trình của mình trong các diễn đàn khoa học, phải biết tận dụng tất cả cơ hội (kể cả tranh thủ các tập san) để quảng bá nghiên cứu của mình đến cộng đồng khoa học. Những bài báo tổng quan (review), bình luận (commentary), chương sách… là những cơ hội lí tưởng để giới thiệu những công trình nghiên cứu của mình đến đồng nghiệp quốc tế.
Nhưng để được mời viết những tổng quan hay bình luận thì cá nhân nhà khoa học phải có một vị thế uy tín trong môi trường khoa học và để tạo ra một vị thế đó, ngoài thành tích khoa học ra, cần phải có kĩ năng ngoại giao. Nói cách khác, nhà khoa học phải biết và tranh thủ ủng hộ của các nhà khoa học đàn anh, các nhóm nghiên cứu có tiếng trên thế giới để được nằm trong quĩ đạo của những người “elite” (tinh tú, xuất sắc - Bản tin ÐHQGHN).
Ông đánh giá kĩ năng của các nhà khoa học Việt Nam như thế nào?
Theo tôi thì câu trả lời là: Chưa. Các đại học nước ta chưa chuẩn bị tốt cho nghiên cứu sinh về các kĩ năng thông tin. Tôi đã dự rất nhiều hội nghị, hội thảo, khoa học trong nước và có thể nói rằng hầu hết các nghiên cứu sinh, thậm chí cả các giáo sư, thiếu kinh nghiệm trình bày một nghiên cứu khoa học cho mạch lạc, chưa am hiểu những qui ước trong việc soạn thảo powerpoint và nhất là chưa nói tiếng Anh thông thạo. Như tôi nói, tiếng Anh thì có thể thông cảm được vì nó không phải là tiếng mẹ đẻ, nên nếu có vài sai sót thì chắc chẳng ai phàn nàn. Nhưng một nhà khoa học cấp giáo sư mà trình bày một nghiên cứu quá sơ sài, quá cẩu thả, và bất chấp qui ước khoa học thì khó mà chấp nhận được. Trong thực tế, tôi đã thấy (và báo chí cũng có lần phản ảnh) về các nhà khoa học hàng đầu nước ta khi nói chuyện trong hội nghị quốc tế làm cho chủ tọa cứ lắc đầu. Do đó, tôi nghĩ những kĩ năng cơ bản như kĩ năng thông tin cần phải được đưa vào chương trình học bắt buộc (compulsory subject) cho sinh viên đại học. Trong khi chưa có những chương trình giảng dạy như thế, tôi nghĩ chúng ta có thể tổ chức nhiều khóa học theo dạng workshop cho các đồng nghiệp trong nước để chúng ta nhanh chóng làm quen với “luật chơi” khoa học ở ngoài.
Thế còn ở Ðại học New South Wales nơi ông đang làm việc, người ta tổ chức bồi dưỡng những kĩ năng này cho các nhà khoa học như thế nào?
Ở Ðại học New South Wales và Viện Garvan, chúng tôi có những khóa học chỉ chuyên dạy về cách viết một bài báo khoa học hay đơn xin tài trợ, cách viết một đơn xin học bổng, cách trình bày một nghiên cứu khoa học cho nghiên cứu sinh. Tôi cũng từng tham gia giảng dạy và soạn tài liệu về cách viết một bài báo khoa học, nên qua đó cũng có thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước. Như vậy, muốn tiếp cận trình độ quốc tế, các nhà khoa học và các nhà quản lý đại học cần phải quan tâm đặc biệt đến kĩ năng mềm.
Theo ông, các đại học Việt Nam cần phải làm thế nào để các nhà khoa học có thể học hoặc tự học để nâng cao những kĩ năng này?
Ông bà ta có câu “Không thầy đố mày làm nên”. Nói đến “kĩ năng” là nói đến thực hành, và thực hành thì khó mà tự học được. Những bài giảng, kể cả bài giảng về cách viết bài báo khoa học, tràn ngập trên internet, nhưng không phải có những bài giảng đó là có thể viết một bài báo khoa học được. Bất cứ kĩ năng nào cũng cần phải học và tiếp cận với những người có kinh nghiệm.
Qua làm việc thực tế với các bạn trong nước, tôi thấy cái khó khăn lớn nhất là các đại học Việt Nam chúng ta thiếu những người có kinh nghiệm về các kĩ năng mềm này, đơn giản vì nhiều giáo sư và nhà khoa học nước ta chưa từng công bố các nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Tuy ngày nay các đại học nước ta cũng có một số nhà khoa học được đào tạo từ nước ngoài, nhưng khả năng độc lập mà họ có thể công bố một công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế vẫn còn rất hạn chế. Do đó, chỉ có một cách hữu hiệu nhất là mời các chuyên gia nước ngoài về trực tiếp giúp trang bị các kĩ năng mềm này cho các nhà khoa học trong nước.
Một kinh nghiệm mà tôi thấy cần học từ các nước láng giềng như Thái Lan và Nhật là ở một số đại học lớn tại các nước này, người ta có hẳn một hay hai người ngoại quốc nói tiếng Anh chuyên làm nghề biên tập khoa học (scientific editor) cho trường. Khi nhà khoa học soạn xong một bản thảo, họ trực tiếp làm việc với các chuyên gia này để hoàn chỉnh bản thảo trước khi gửi đi nộp cho một tập san khoa học. Tôi thấy đây cũng là một mô hình thực tế có thể giúp nâng cao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.
===
Một số nguyên tắc khi đặt tựa đề cho bài báo khoa học
1. Nên cố gắng đặt tựa đề với một thông điệp mới. Làm được như thế rất dễ gây sự chú ý của người đọc. Ví dụ: “A novel relationship between osteocalcin and diabetes mellitus”, ở đây chữ novel có tác dụng gợi ra một cái mới và làm cho người đọc thấy thích thú.
2. Không nên viết tựa đề theo kiểu phát biểu (statement). Khoa học không có gì là bất biến và “sự thật” hôm nay có thể sai trong tương lai. Do đó những tựa đề như “Smoking causes cancer” nó chẳng những cho thấy sự ấu trĩ hay ngây thơ trong khoa học của tác giả mà còn làm cho người đọc cảm thấy rất khó chịu.
3. Không bao giờ sử dụng viết tắt trong tựa đề bài báo. Mỗi công trình nghiên cứu thường tập trung vào một vấn đề chuyên sâu nào đó, và nếu chúng ta sử dụng viết tắt thì chỉ những người trong ngành mới hiểu, còn người ngoài ngành không hiểu và đó là một thiệt thòi cho nghiên cứu của mình.
4. Không nên viết tựa đề theo kiểu nghịch lí. Những tựa đề nghịch lí là “Yếu A ảnh hưởng xấu đến X, nhưng tác động tốt đến Y”. Những tựa đề kiểu này có thể làm cho người đọc khó chịu, và có khi làm lẫn lộn vấn đề của nghiên cứu.
5. Tựa đề không nên quá dài hay nhiều chữ. Tựa đề có nhiều chữ làm khó đọc và làm cho người đọc… dễ quên. Thông thường, tác giả nên cố gắng đặt tựa đề dưới 20 chữ. Có nhiều bài báo mà tựa đề có khi chỉ một chữ!
Một số nguyên tắc khi trình bày Power Point báo cáo khoa học
1. Nên dùng font chữ không có chân và Sans Serif như Arial hay Tahoma để khán giả dễ đọc. Những font chữ có chân như Times New Roman hay Courier làm cho khán giả tốn nhiều thời gian hơn để theo dõi.
2. Nên dùng cỡ chữ từ 18 trở lên, vì chữ nhỏ hơn làm cho người có tuổi khó đọc, còn chữ quá lớn thì tốn nhiều không gian.
3. Tránh viết toàn bộ bằng chữ in hoa vì rất khó đọc, và gây ấn tượng là diễn giả đang la hét!
4. Nên chọn chữ tối trên nền sáng cho giảng dạy hay nói chuyện trong giảng đường nhỏ.
5. Nên chọn chữ sáng trên nền tối cho các báo cáo khoa học và trong các giảng đường rộng. Tránh chữ màu xanh lá cây trên nền màu đỏ vì dễ gây "ngộ độc màu" cho người theo dõi.
6. Không nên cho âm thanh chạy theo chữ. Không nên sử dụng hoạt hình quá nhiều, vì nó gây ấn tượng diễn giải là… trẻ con.
7. Không nên nhồi nhét quá nhiều thông tin và hình ảnh trong một slide, vì nó làm giảm sự chú ý và gây lẫn lộn cho diễn giả.
8. Không nên đọc slide! Ðọc slide gây ấn tượng “trả bài” và làm cho người nghe không có hứng thú theo dõi.
Một số yếu tố làm cho người nghe chán
Kết quả nghiên cứu trên 159 khán giả về những yếu tố làm cho người nghe cảm thấy chán và sao lãng vấn đề.
1. Diễn giả đọc slide (60%)
2. Chữ quá nhỏ (51%)
3. Câu dài và không có gạch đầu dòng (48%)
4. Chọn màu khó đọc (37%)
5. Chữ chạy lòng vòng, hoạt cảnh nhiều (25%)
6. Dùng âm thanh đệm vào chữ (22%)
7. Biểu đồ, hình minh hoạ quá phức tạp (22%)
Phạm Hiệp (thực hiện) [Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 216, 2009)
http://www.bulletin.vnu.edu.vn/btdhqghn/Vietnamese/C1483/C1636/2009/03/N24427/?1
Monday, March 30, 2009
Những “kho” ebook mà người yêu sách không thể bỏ qua
Hy vọng, với những kho sách đã giới thiệu ở trên, bạn có thể làm giàu thêm bộ sưu tập ebook của mình cũng như tìm thêm được những quyển sách hữu ích cho công việc và học tập.
Phạm Thế Quang Huy
Thursday, March 26, 2009
2009 chọn chữ nào?
James
=============================
http://vietnamnet.vn/blogviet/2009/01/821707/
Blog Việt - 2009 sẽ là một năm cực kỳ khó khăn. “Bóng đen” của khủng hoảng kinh tế không chỉ che phủ tới từng quốc gia mà đã lan tới từng doanh nghiệp, mọi gia đình và mỗi cá nhân.
Dù không muốn, mà buộc phải chọn chữ NHẪN cho năm 2009!
Khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp cắt giảm quỹ lương, có thể thất nghiệp. Nhẫn là tiết kiệm tiêu dùng, đừng để bần hàn sinh đạo tặc.
Càng khó khăn, càng phải một lòng đi theo minh chủ. Ắt có kẻ dèm pha là xu nịnh. Nhẫn để bỏ ngoài tai những lời ác.
Vì lợi ích chung, phải đề xuất xử lý những việc đụng chạm tới quyền lợi nhiều người. Nhẫn là chịu đựng những lời khó nghe.
Áp lực công việc, các sếp sẽ dễ nóng giận. Nhẫn là chịu đựng ngay cả khi bị oan. Đừng để bụng.
Cuộc sống thay đổi từng ngày. Nhẫn phải theo kiểu Barac Obama. Nhẫn nhưng vẫn phải "Change"
Kinh tế gia đình khó khăn, nợ nần khó trả. Nhẫn để đừng đưa ra các quyết định sai lầm, lún sâu vào nợ.
| Ảnh minh họa: Tác giả bài viết cung cấp |
Con lớn đang vào tuổi dậy thì cả tâm-sinh-tính lý đều thay đổi. Nhẫn để nghe hết những điều con nói, đừng vội áp đặt quy chụp.
Con bé thì trong trắng ngây thơ. Nhẫn là bỏ qua mọi chuyện ngoài cổng để tối tối được cười với các con.
Bước vào lứa tuổi suy giảm tình dục. Nhẫn để khắc phục, đừng hoảng.
Nhi vừa bất hoặc. Nhẫn là kiệm lời. Trước uốn lưỡi 3 lần, nay... uốn thêm 1 lần nữa trước khi nói.
Uống kém, dễ say. Nhẫn là biết dừng lại khi thấy mồm "ngứa ngáy".
Phổi yếu, trước thở mạnh che mờ cả nửa mét vuông kính, nay còn độ... 1 bàn tay. Nhẫn để hạn chế hút thuốc. Trừ khi thức khuya viết blog.
Hay nghĩ về chuyện quá khứ, đó là dấu hiệu của tuổi già. Nhẫn đừng nói nhiều chuyện "ngày xưa", nói chuyện về hiện tại và tương lai.
Nhóm máu dễ xúc cảm, rung động. Nhẫn là đừng để phần tình cảm át phần lý trí.
Chữ nghĩa có hồn, kinh lắm, nó có lợi mà cũng dễ gây hại. Khẩu thiệt thì vô bằng, email còn lưu lại. Nhẫn để đừng vội vàng gửi, viết xong hãy để đấy quay sang làm việc khác. Lát sau đọc lại thêm rồi mới send
Lại nghe nói...
Chữ nhẫn có bộ đao. Dù gươm kề cổ, nhẫn được mới là cao
Trong chữ Nhẫn có chữ Tâm bên dưới bộ đao. Nhẫn là phải từ trong tâm
Trong chữ Nhẫn có chữ Khẩu. Tâm nhẫn rồi thì miệng đừng càm ràm gì nữa. Nhẫn nhịn trong lòng đã khó, nhẫn miệng cũng khó không kém!
- Gửi từ email Vũ Ninh - Blog Sống Chậm: Tôi thích làm việc nhanh để rồi sống chậm!
Google được trang bị khả năng tìm kiếm ngữ nghĩa
Không chỉ hiển thị kết quả chứa từ khóa, công cụ tra cứu của Google còn hiểu câu lệnh "định luật vật lý" rộng ra là "momen động lượng", "thuyết tương đối hẹp", "vụ nổ big bang", "cơ học lượng tử"...
Công nghệ ngữ nghĩa mới giúp dịch vụ Google nắm rõ hơn những khái niệm liên quan. Chẳng hạn, khi người dùng nhập "Vịnh Hạ Long", Google sẽ hiểu đây là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam và giới thiệu các kết quả khác về Nha Trang, Đà Lạt, Cố đô Huế...
Mức độ "hiểu" của Google mới chỉ xoay quanh cụm từ, thuật ngữ phổ biến và còn hạn chế khi người sử dụng tra cứu bằng ngôn ngữ phi tiếng Anh, nhưng nó cho thấy web ngữ nghĩa (semantic web) đang xuất hiện nhiều hơn trong các hoạt động của con người trên Internet.
| Đoạn chú thích (màu đen) sẽ được mở rộng đến khi tất cả các từ trong câu lệnh đã xuất hiện hết. |
Một cải tiến khác của Google là đoạn mô tả trang web dài hơn. Kết quả tìm kiếm trên Google bao gồm tiêu đề (màu xanh) và đoạn chú thích dài 2 dòng. Tuy nhiên, với những truy vấn trên 3 từ, người sử dụng sẽ khó khăn khi lọc thông tin, do đó Google mở rộng chú thích lên nhiều dòng để các từ khóa trong câu lệnh được hiển thị hết, giúp họ xác định trang web đó thực sự chứa dữ liệu họ cần tìm hay không.
Lê Nguyên (theo Google Blog)
Wednesday, March 18, 2009
Cuộc chiến không cân sức giữa giới học giả VN và TQ
VietDoor
Trích bài trên blog của NVT ỏ đây:
Đọc bài này (“’Cuộc chiến’ không cân sức giữa giới học giả VN và TQ”) làm tôi nhớ đến câu chuyện “công bố quốc tế” mà tôi (và vài người khác) đã nêu ra từ lâu trong hoạt động khoa học ở Việt Nam. Sự thật là các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chẳng có ai chú ý, vì đại đa số đều chỉ ta nói cho ta nghe, tức là chỉ công bố trên các tạp chí tiếng Việt. Các tạp chí này đều có đặc điểm chung là chất lượng thấp. Vì chất lượng thấp, nên chẳng ai quan tâm. Vì chẳng ai quan tâm, nên những vấn đề của Việt Nam chẳng ai biết đến. Và, thế là chúng ta thua thiệt dài dài ...
Cái khó khăn là Việt Nam không có những nhà nghiên cứu chịu công bố những lí luận và nghiên cứu của họ một cách nghiêm chỉnh trên các tạp chí quốc tế. Trong mấy mươi năm qua, con số bài báo khoa học về xã hội học từ VN chỉ đếm đầu ngón tay. Mới đây, có vài bài từ một số nhà nghiên cứu trẻ từ Việt Nam, nhưng họ viết theo quan điểm của ... Mĩ. Chúng ta chỉ giỏi Mẹ hát con khen hay, giỏi “nói với nhau”, mà không nói cho người ngoài nghe. Trên báo chí và truyền thông đại chúng, các nhà khoa học ta nói rất nhiều và có khi cũng rất hay, nhưng khi xem xét lại họ có công bố gì trên các tập san quốc tế hay không thì con số gần như là zero. Họ rất nổi tiếng ở nhà, nhưng vô danh ở ngoài. Chẳng biết tình trạng này có phù hợp với câu “khôn nhà dại chợ” không?
Chẳng hạn như chuyện chất độc da cam, ảnh hưởng lớn như thế và nghiêm trọng như thế, mà suốt mấy mươi năm trời chỉ có 4 bài báo khoa học từ Việt Nam, và tất cả 4 bài đều do người Mĩ đứng tác giả đầu! Các nhà khoa học Việt Nam nói oang oang là họ có nghiên cứu, nhưng hỏi công bố ở đâu thì họ chỉ mấy tạp chí ở Việt Nam! Do đó, khi ra tòa, thì tòa chỉ đơn giản tuyên bố “không có bằng chứng”, và thế là vụ kiện thất bại. Hết thất bại này đến thất bại khác. Thất bại không phải vì chúng ta không có chính lí, mà là không có bằng chứng khoa học. Báo chí Việt Nam đăng rất nhiều bài phóng sự đầy cảm tính (đó là nghề của giới báo chí), đưa ra những hình ảnh (chẳng dính dáng gì đến chất độc da cam), thì làm sao thuyết phục được dư luận quốc tế?
Rồi đến chuyện tranh chấp với TQ về vụ Trường Sa và Hoàng Sa, chúng ta cũng chỉ nói cho chúng ta nghe, chứ tài liệu khoa học về chuyện này trên quan điểm Việt Nam trên trường quốc tế thì rất hiếm. Các nhà-gọi-là nghiên cứu xã hội học của Việt Nam thật ra chẳng có tiếng vang gì trên thế giới, vì họ chỉ nói cho người mình nghe. Do đó, nếu một ngày nào đó, chúng ta ra tòa quốc tế với “bọn” TQ, chúng ta ở thế yếu (cũng y chang như vụ chất độc da cam). Hô hào “Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam” có thể làm cho chúng ta cảm thấy có “hào khí”, nhưng không thể thuyết phục được ai. Chúng ta cần lí lẽ chính đáng, cần dữ liệu khoa học, cần dữ liệu lịch sử. Chúng ta có tất cả những dữ liệu đó, nhưng hình như chưa ai “xử lí” dữ liệu một cách có hệ thống và công bố cho dư luận quốc tế biết.
Bài này nói "Việt Nam yếu thế", nhưng tôi nghĩ không hẳn vậy. Cần phân biệt giữa chất lượng và số lượng. TQ có thể có nhiều học giả lên tiếng trên trường quốc tế, nhưng lí lẽ của họ có thể chẳng có chất lượng gì. Do đó, chúng ta cần biện luận với chất lượng cao. Trong khoa học, một bài báo có chất lượng cao trên một tạp chí có uy tín có giá trị gấp trăm lần bài báo xoàng trên các tạp chí dỏm.
Chúng ta cần một thế hệ nghiên cứu xã hội học mới giúp cho Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế và có tiếng nói trên trường quốc tế về những tranh chấp giữa nước ta và nước khác.
NVT
http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6361/index.aspx
"Cuộc chiến" không cân sức giữa giới học giả VN và TQ
Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam.
Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…
Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền
Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự.
Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa (HS-TS), do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.
Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.
Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".
Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.
Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…
Trung Quốc "chiếm sóng"
Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).
Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học.
Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.
Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và HS-TS. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển - tạp chí của Thừa Thiên - Huế) . Số lượng bản in hạn chế - 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp.
Việt Nam… yếu thế
Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về HS-TS, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành - Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)...
Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.
Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo HS-TS (Lưu Văn Lợi, NXB Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, NXB Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít.
Với kênh thứ ba - thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. - thì sự tham gia của giới khoa học Việt Nam càng yếu ớt hơn.
Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, TS Từ Đặng Minh Thu (ĐH Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè "Vấn đề tranh chấp Biển Đông" (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng.
Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?
TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: "So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội".
Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và HS-TS lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí.
Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v... Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.
Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu "nhạy cảm" là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.
Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: "Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về HS-TS và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả".
Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là "nhạy cảm", "mật", và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để "xin" được nghiên cứu về HS-TS hay chủ quyền đất nước.Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu - thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: "Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài".
Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" - như khẳng định của Bộ Ngoại giao.
Chúng ta có thể làm gì?
Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện "công ích" như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.
Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước.
Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước "xã hội hóa" công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ...) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí "luật hóa", để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.
Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế...Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách "ngoại giao nhân dân", tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.
Đoan Trang
84 tuổi vẫn đạp xe đi dạy tiếng Anh
VietDoor
===========================
Ông Anh vẫn còn nhớ như in những năm tháng tuổi thơ và quá trình đầy khó khăn đến với cái nghề dạy học của mình. Ông Anh kể, từ nhỏ ông đã đi học một chương trình học do người Pháp dạy và cho đến năm 1943 ông tốt nghiệp bằng thành trung tiếng Pháp. Sau đó đi học bằng tú tài nhưng do tình hình lúc bấy giờ khó khăn nên ông không học được Đại học. Tuy nhiên ông vẫn tiếp cận được một số sách báo, kiến thức từ một số người thân quen khác.
Năm 1945, ông được đi học lớp cán bộ tuyên huấn tỉnh ủy Bến Tre và sau đó tham gia kháng chiến đến năm 1954. Lúc này có việc đưa lực lượng đi Bắc chiến đấu nhưng do ông có vợ và 2 con nhỏ nên ông không đi và năm 1955 ông bắt đầu đi dạy học. Ông Anh cho biết, đây là mốc rất quan trọng cho nghề nghiệp của mình lúc đó và cả sau này. Vì lúc này ông cũng là một cán bộ bí mật nhưng được dạy học công khai. Năm 1968 ông liên lạc lại được với cách mạng vì trước đó đã mất liên lạc với lý do an toàn cho ông. Lúc này ông tham gia vào Hội nhà giáo bí mật của thị xã Bến Tre.
Từ đó đến năm 1969, ông vừa dạy học nhưng cũng vừa tự học và ông thi đậu vào Đại học Văn khoa Sài Gòn rồi học Đại học và sau đó tốt nghiệp thì chuyển sang dạy môn Văn cấp 3. Trong giai đoạn 1969-1973, ông là Hiệu trưởng của trường cấp 3 Thạnh Phú - Bến Tre. Năm 1975-1990, ông tiếp tục dạy học và sau đó thì nhà nước cho nghỉ hưu ở tuổi 65, lãnh lương hưu một lần là 7 chỉ vàng (tương đương khoảng 1 triệu 400 đồng tiền thời đó).
Sau khi về hưu, ông Anh về làm vườn cùng vợ để nuôi con cái ăn học. Ông Anh có tất cả 8 người con đều học hết lớp 12. Nhưng do hoàn cảnh còn rất khó khăn cho nên chỉ có 3 người học lên tiếp Cao đẳng và hiện giờ là những giáo viên cấp 2.
Còn riêng ông Anh thì ông bắt đầu đi dạy kèm cho nhiều học sinh vào năm 1995. Ông mở lớp dạy tiếng Anh vỡ lòng (vì trước đó dù ông học tiếng Pháp là chính nhưng ông cũng được học 2 năm tiếng Anh nên ít nhiều ông cũng biết tiếng Anh) tại nhà và cho vài đứa trẻ trong xóm.
Không chỉ dạy học, ông Anh còn là một “nhà thơ”.
Ông Anh dạy lớp vỡ lòng tiếng Anh cho đến năm 1999 thì ông lại đi học thêm tiếng Anh. Lúc bấy giờ, ông cũng đã 74 tuổi nhưng “sáng ông làm thầy giáo, tối làm học trò” trong suốt 3 năm trời. Tối nào ông cũng đạp xe gần 10 cây số từ nhà ở xã Tân Phú Tây (Mỏ Cày) đến Trung tâm ngoại ngữ Bến Tre (thị xã Bến Tre) để học tiếng Anh.
Ông cười nói: “Lúc đó, nhiều thầy cô giáo và nhiều người đến học đáng tuổi con cháu của tôi rất bất ngờ khi thấy một ông già hơn 70 tuổi nhưng vẫn còn có thể đi học”. Sau 3 năm “miệt mài kinh sử” ông Anh cũng lấy được bằng B và bằng C tiếng Anh “hết sức ngon lành” ở cái tuổi mà “không biết ngày mai ra sao”.
Hiện giờ, ông Anh đang dạy cho gần 20 em học sinh lớp vở lòng, lớp 6, lớp 8, lớp 9 môn tiếng Anh ở các xã Phước Mỹ Trung, Tân Phú Tây. Ông cho biết, lâu lâu cũng dạy cho các em cấp 3 nhưng số này là rất ít vì thời gian rất hạn chế. Ông cũng cho biết thêm, dạy cho các em nhưng mình cũng thu chút ít tiền học phí để lo cho tuổi già.
Khi chúng tôi hỏi về sức khỏe ở cái tuổi hơn 80, ông Anh bộc bạch là ông thường xuyên tập thể dục để giữ gìn sức khỏe và từ ngày hành nghề dạy học thêm cho đến nay ông chưa một lần bị ốm đau hay tuổi già hành hạ những khi trái gió trở trời. Quả thật, ông Anh còn rất khỏe, mắt còn sáng để đọc rành rọt từng câu chữ một bài báo nào đó, ông vẫn còn rất nhanh nhẹn khi đi xe đạp đây đó. Ông cho biết, thời gian của ông hiện giờ là “rất kín” vì phải dạy nhiều chỗ nên từ 6g30 sáng cho đến 19g tối hàng ngày là không thể gặp ông ở nhà.
Nhiều em học sinh từng học tiếng Anh với ông giờ cũng có rất nhiều người thành công như có em đang học Đại học Sư phạm Đồng Tháp, Đại học Cần Thơ… Những em này ông Anh thường dạy từ lớp vỡ lòng cho đến cả cấp 3 môn tiếng Anh.
Ông tâm sự, còn khỏe thì còn đi dạy, chừng nào đi không nổi thì thôi chứ ông nhất quyết không chịu “gác kiếm” nghề dạy học của mình. Nhiều học trò của ông cho biết, ông rất ít khi bỏ dạy và nếu có nghỉ thì đa số là do các em có việc riêng nên xin ông nghỉ.
Không chỉ dạy học, ông Anh còn là một “nhà thơ”. Sau khi về hưu, ông cũng làm thơ khá nhiều nói về quá trình đến với nghề dạy học, rồi luyến tiếc những ngày tháng đã qua, rồi những việc thế sự ở đời. Thơ của ông cũng được đăng trên các tạp chí văn nghệ huyện, tỉnh Bến Tre. Và đương nhiên sự nghiệp giáo dục được ông đặt lên hàng đầu như trong bài thơ “Giã biệt” của ông có đoạn: “Về dưới mái tranh dừa mát rượi / Nâu sồng, thanh đạm vậy mà vui / Sống nghĩa là cho, cho nhân nghĩa / Cho mầm non thêm nhánh thêm chồi”. Đó cũng là mong muốn của ông Anh, nhưng ở cái tuổi 84 thì không biết ông còn có thể “cho…” đến khi nào? Một tấm lòng giáo dục rất đáng được trân trọng.
Ông cho biết, hiện ông đang làm hồ sơ để xin được cấp trợ cấp như cho một giáo viên về hưu nhưng vẫn chưa được xã xem xét.
Huỳnh Hải
http://dantri.com.vn/c25/s25-313456/84-tuoi-van-dap-xe-di-day-tieng-anh.htm