Saturday, April 19, 2014
Cảm nhận khi lên Windows Phone 8.1
Wednesday, June 19, 2013
Haier HXT, Dongle and Sm@rt Eye Android: Smart TVs with Android OS
----------------
The Chinese manufacturer Haier has presented some of its new products for the first half of 2013 in Las Vegas CES. The first is the adapter Dongle Android, a device that allows you to convert virtually any TV on market into a Smart TV. It is followed by new series of Haier HXT Android TVs with Android 4.2 OS, Qualcomm Snapdragon quad-core processor up 55 inches and a handy remote control multi-purpose screen. Meanwhile, the new Sm@rt Eye Android TV camera combines a Full HD integrated features Smart TV, also running through version Android 4.2 or Jelly Bean, to enjoy the benefits of connected TV any screen with HDMI port and USB.
The new Haier Dongle Android Adapter comes as a Smart TV that connects to the HDMI port and USB for Haier TVs or other brand, always having these connections. The Dongle works with Android version 4.1 Jelly Bean. It is equipped with an ARM Cortex A9 dual core 1.6 Ghz processor. It has 1 GB of memory RAM, 4 GB of storage and GPU Mali 400. As for connectivity, the Haier Android Dongle incorporates an HDMI port, USB 2.0, card reader Micro-SD, infrared, WiFi and DLNA. It also comes with a standard gyroscopic remote control for easy menu navigation and management of applications. Haier announced the availability of new Android Dongle from April 2013, with a suggested retail price of 130 USD.
The new Haier Android HXT TV is a Smart TV that incorporate Qualcomm Snapdragon processor and quad core MPQ8064 run under the operating system Android 4.2. These new Smart TV look very elegant, with virtually no screen frame and a support base or flat. The display, with LED backlight offers resolution Full HD, supports 3D images, and is available in sizes up to 55 inches.
The new Haier Android HXT TV is a Smart TV that incorporate Qualcomm Snapdragon processor and quad core MPQ8064 run under the operating system Android 4.2. These new Smart TV look very elegant, with virtually no screen frame and a support base or flat. The display, with LED backlight offers resolution Full HD, supports 3D images, and is available in sizes up to 55 inches.
With network connectivity and WiFi, the Android Haier HXT have all the benefits of access to Internet for thousands of available applications, such as games or information services, access to social networks and music and movies. It also includes a complete multipurpose remote control, besides the usual functions of TVs it also allow to use it as a joystick, microphone or keyboard to control the Android applications. These interesting televisions will reach the market next October, at a price to be determined.
Finally, the Haier Sm@rt Android TV combines the functionality of Smart TV with Android OS and an integrated camera with resolution Full HD (1920 x 1080 pixels). Just as HXT televisions, the Sm@rt Android TV uses the operating system Android 4.2, and the same Qualcomm Snapdragon quad-core processor, graphics card with Adreno 320. It also includes multipurpose remote, and the panel shall find an outlet connections HDMI port, one USB, WLAN WiFi and DLNA. The Haier Sm@rt Eye Android will arrive in the month of April, and its price is recommended retail of 200 USD.
Sunday, May 31, 2009
Cuộc chiến của các máy tìm kiếm - Nhìn từ một góc độ khác!
James
http://ledduy.blogspot.com/2009/05/cuoc-chien-cua-cac-may-tim-kiem-nhin-tu.html
Như vậy là sau Cuil, Wolfram Alpha, đến lượt Microsoft Bing lại làm xôn xao cộng đồng những người dùng Internet về cuộc chiến với Google. Tại sao Google lại có nhiều "kẻ muốn tấn công" như vậy? Lí do chính đó là lợi nhuận. Thị trường quảng cáo trực tuyến hiện nay chiếm từ 10%-15% tổng giá trị của thị trường quảng cáo nói chung (bao gồm quảng cáo trực tuyến, trên tivi, báo chí, pano, ...). Trong năm 2008, theo IDC thì chi phí quảng cáo trực tuyến toàn cầu lên đến 65 tỉ USD. Theo số liệu vào tháng 03.2009, thì Google chiếm trên 63% số lượng tìm kiếm ở US, với hơn 293 triệu lượt tìm kiếm mỗi ngày. Nói một cách khác, miếng bánh béo bở của thị trường quảng cáo trực tuyến đang được Google "nuốt" phần lớn!
Với mỗi máy tìm kiếm mới ra đời, câu hỏi đầu tiên luôn được mọi người quan tâm là nó có phải là "Google killer" hay không? Trả lời câu hỏi đó, có nghĩa là phải làm nổi bật lên điểm mạnh nhất, điểm khác biệt nhất so với Google hiện tại. Và những điểm nổi bật này, thông thường sẽ được quá trình marketing, PR của các công ty thực hiện, để thu hút sự chú ý của công chúng.
Nếu bạn là Google, chắc chắn là bạn sẽ không ngồi yên để "kẻ thù" (competitor) tấn công mà không có động thái gì. Bên cạnh không ngừng cải tiến chất lượng và tính hiệu quả của hệ thống, những chiêu thức khác ngoài chuyên môn cũng có thể được triển khai.
Theo thống kê của Mark [3], những sự kiện có vẻ như rất "tình cờ" sau của Google, rất làm cho người ta tin rằng Google không ngồi yên trước những đối thủ cạnh tranh.
- Ngày 28.07.2008, Cuil ra mắt với tuyên bố đã đánh chỉ mục hơn 120 tỉ trang web, và cho rằng con số này gấp 3 lần các máy tìm kiếm hiện có. Tuy nhiên, trước đó 3 ngày, 25.07.2008, Google đã tuyên bố trên blog của họ rằng, họ đã đánh chỉ mục hơn 1,000 tỉ trang.
- Ngày 25.02.2009, Cuil giới thiệu tính năng đoạn trích (snippet) cho mỗi kết quả tìm kiếm dài hơn. Ngày 24.03.2009, Google giới thiệu hai cải tiến mới, trong đó có đoạn trích dài hơn.
- Gần đây nhất, ngay trong ngày Wolfram Alpha ra đời, nhấn mạnh tính năng tổ chức dữ liệu để trả lời cho câu hỏi của người dùng, Google cũng đưa ra tính năng tương tự.
- Và cuối cùng, ngay trong ngày 28.05.2009, khi mà Steve Ballmer giới thiệu về cỗ máy tìm kiếm mới Microsoft Bing ở San Diego thì ở gần đó, tại San Francisco, Google giới thiệu về Wave.
Đằng sau các sự tình cờ đó là gì, người ta suy đoán rằng, có hai lí do chính:
- Thứ nhất, Google muốn phân tán sự chú ý của người dùng với các đối thủ cạnh tranh. Với vị thế của Google, thì bất cứ thứ gì Google công bố, đều có sự thu hút nhất định. Đó là lí do mà trong ngày 28.05.2009 vừa qua, sự chú ý tới Bing không hoàn toàn trọn vẹn như mong đợi.
- Thứ hai, Google muốn khẳng định với người dùng rằng, họ vẫn liên tục cải tiến và những gì đối thủ của họ cho là điểm mạnh thì họ cũng có. Do đó, ko có lí do gì để chuyển từ Google sang đối thủ của họ.
Trong một bài phản biện lại các "nghi ngờ" về "động cơ của Google" trong các sự kiện trên, Matt Cutts (nhân viên Google) đã lí giải rằng mọi chuyện đều ngẫu nhiên mà thôi. Ví dụ chuyện Cuil, Matt cho rằng Google đã dự định công bố việc đánh chỉ mục được 1,000 tỉ trang web từ giữa tháng 6, nhưng sau đó công bố này bị hoãn lại hơn 1 tháng. Hay trong chuyện của Wolfram Alpha thì là lí do em bé của blogger ra đời sớm hơn dự định làm bài blog lẽ ra được dự định công bố sau nhưng lại công bố trước và trùng ngày công bố của Wolfram Alpha.
Không ai có thể nghi ngờ một sự thật: những gì đối thủ của họ làm được, Google cũng sẽ làm được! Thậm chí Google còn làm được sớm hơn cả đối thủ của họ (trường hợp của Cuil là một ví dụ). Nhưng nếu là bạn, bạn có tin vào những giải thích về sự "tình cờ" kia không? Tại sao việc công bố kích thước chỉ mục lại bị dời đến hơn 1 tháng, và rất gần với ngày ra đời của Cuil, nhắm đúng vào điểm mạnh mà Cuil muốn "bố cáo" với thiên hạ? Tại sao sự kiện em bé sinh sớm lại đẩy việc công bố tính năng tương tự như Wolfram Alpha đúng vào ngày Wolfram Alpha ra đời. Cũng nói thêm ở đây là tính năng tương tự đó chỉ mới thực hiện được trên 2 tập dữ liệu mà thôi, nghĩa là vẫn chưa đủ hoàn hảo như của Wolfram Alpha. Danny Sullivan thậm chí còn cho rằng, Google đã không chỉ một lần làm như vậy.
Vậy mới thấy, cuộc chiến với Google không đơn giản chút nào. Có những việc tưởng như rất nhỏ, không ai để ý đến, nhưng đều tiềm ẩn những "tuyệt chiêu" để làm yếu đối thủ.
Tham khảo:
1. Quảng cáo trực tuyến
http://vietnambranding.com/
http://www.vnmedia.vn/
http://quangbawebsitevn.
2. Thị phần tìm kiếm của Google
http://blog.usaseopros.com/
3. Thảo luận về chiêu "chơi trội" (steal other's thunder)
http://www.marksonland.com/
http://www.mattcutts.com/blog/
http://www.techcrunch.com/
http://searchengineland.com/
Lê Đình Duy
Thursday, May 7, 2009
Vài điều suy ngẫm khi viết phần mềm và tối ưu hoá code
Quá trình phát triển thành sản phẩm, các tester và khách hàng sẽ "duyệt" qua sản phẩm của chúng ta và đưa ra những bugs (nếu tìm thấy) cũng như họ muốn những yêu cầu khác để sản phẩm tốt hơn (mà trước đây họ chưa hình dung ra được).
Điều này đã làm các thành viên viết phần mềm phải chỉnh sữa lại code của mình để đáp ứng yêu cầu đó. Thời gian này, manager và programers nhiều lúc lo chỉnh sữa để kịp tiến độ mà quên đi theo đúng cấu trúc, ý nghĩa của mô hình đã phân tích. Cũng có thể manager đã ko lường trước hết vấn đề, nhưng thực tế cũng có nhiều thứ mà chúng ta không thể biết hết được.
Đó là một trong những trở ngại mà chúng ta hay gặp khi viết phần mềm. Nhiều lúc đã làm dự án chúng ta thất bại. Cũng có trường hơp chúng ta phải xây dựng lại và có tham khảo đến mô hình đã thất bại.
Một điều nữa là khi viết code, chúng ta không chú trong để cách viết, gây khó khăn cho những thành viên khác cùng tham gia viết một lớp, module với mình. Vì ko có standard code. Đã có nhiều bài viết về quy định chuẩn cho việc viết code rồi (nên không nói ra ở đây).
Và nếu viết những ứng dụng thời gian thực, chúng ta cũng cần để ý cách viết sao cho tối ưu. Code của lệnh if, vòng lặp, đệ quy cần phải chú ý, vì đó sẽ là những phần tốn nhiều thời gian xử lý. Đối với những compiler ngày nay, họ cũng đã chú ý nhiều đến vấn đề này, nhưng cũng có nhiều trường hợp phải có sự hỗ trợ của programmer. Có một thư viện hỗ trợ cho CPU của Intel dựa trên tập lệnh MMX, SSE, SEE2, SEE3. Có một bài nói về vấn đề này tại đây. Và tận dụng tối đa CPU bởi việc lập trình song song (VS2005 hỗ trợ lập trình song song với OpenMP)
Trên đây là vừa điều mà tôi đã gặp phải trong quá trình viết phần mềm.
James
Sunday, April 26, 2009
Virtual machine on web
Về mặt kỹ thuật thì nó sử dụng công nghệ Cloud Computing để biến những ta`i nguyên của họ (như CPU, RAM, Ổ đĩa ...) tha`nh một dịch vụ, để cung câ´p cho user. Bởi hiện tại máy ti´nh chúng ta bỏ phí rất nhiê`u rất nhiều, CPU của máy tính chúng ta chỉ làm việc trung bình cỡ khoảng 20%, chưa tận dụng hết công suất. Vì vậy, công nghệ này sẽ giúp tận dụng tô´i đa nguồn tài nguyên này.
James
-------------------------
http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200917/20090425221723.aspx
Phiên bản icloud hiện tại cung cấp cho mỗi tài khoản miễn phí 3 GB để lưu trữ dữ liệu, gồm tài liệu, hình ảnh và âm nhạc trực tuyến. Gói dịch vụ miễn phí này cung cấp thêm 30 chương trình miễn phí cho người dùng, như bộ office, e-mail, chương trình chơi nhạc, xem video, nhắn tin, game… Icloud không cần tải xuống để cài đặt vào máy tính mà có thể sử dụng trực tiếp thông qua trình duyệt Internet Explorer hoặc Firefox. Đăng ký sử dụng và tìm hiểu thêm thông tin tại địa chỉ http://icloud.com/en.
Wednesday, April 22, 2009
Giác quan thứ 6 trong lĩnh vực CV (sixth sense)
James
--------------------------------------------------------
Một bài báo track 3D motion của tay: B. Stenger, P. Mentonca and R. Cipolla, "Model-based 3D Tracking of Articulated Hand", CVPR 2001.
http://www.pranavmistry.com/projects/sixthsense/
http://www.ted.com/talks/pattie_maes_demos_the_sixth_sense.html
Sunday, April 19, 2009
Đại học VN có thực sự là đại học?
James
------------------------------------------------------------
http://www12.24h.com.vn/news/detail/46/225199/dai-hoc-VN-co-thuc-su-la-dai-hoc.24h?relate_cat=0
Thế giới: ĐH là trung tâm khoa học
Về nguyên lý, trong giáo dục đại học (ĐH), hai nhiệm vụ - nghiên cứu khoa học và giảng dạy, đều quan trọng, tác động với nhau, bổ sung cho nhau và thúc đẩy lẫn nhau.
Và trong thực tế, nghiên cứu khoa học (NCKH) là một tiền đề không thể thiếu để bảo đảm chất lượng đào tạo. Vì qua nghiên cứu, người thầy mới có thể luôn được nâng cấp trình độ, cập nhật các tri thức mới mẻ trong lĩnh vực chuyên môn của mình, nhờ đó, sinh viên có cơ may được tiếp thu bài giảng bao gồm những kiến thức tiên tiến của thời đại và được tiếp cận các hoạt động thực hành, các kỹ năng NCKH.
Từ chân lý đó, ở tất cả các nước phát triển trên thế giới, các trường ĐH vừa là lò đào tạo trí thức, vừa là nơi sản sinh ra những công trình khoa học, những sáng kiến phát minh góp phần làm giàu có thêm kho tàng trí tuệ, thúc đẩy nền văn minh, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân loại. Hơn thế nữa, rất nhiều phát minh lớn, nhiều giải thưởng Nobel cao quý đã ra đời từ các phòng thí nghiệm của các ĐH.
Chẳng hạn, một thí nghiệm nổi tiếng, mang tính kinh điển trong khoa học hạt nhân, tạo ra “phản ứng phân hạch hạt nhân” dưới tác dụng của hạt trung tử (neutron). Thí nghiệm đó được thực hiện tại một phòng thí nghiệm thuộc ĐH Rome (Ý), bởi một nhóm giảng viên dưới sự lãnh đạo của người thầy vật lý, Enrico Fermi, năm 1934.
Và một ĐH khác - ĐH Chicago (Hoa Kỳ), cũng chính GS E. Fermi, tiếp tục mạch công trình nghiên cứu nói trên, năm 1942, đã chỉ đạo xây dựng thành công lò phản ứng hạt nhân đầu tiên, mở đường khai thác nguồn năng lượng hạt nhân khổng lồ phục vụ nhân loại.
Cũng như các ĐH Rome (University of Rome) và Chicago (Chicago University) nói trên, nhiều ĐH danh tiếng khác trên thế giới đều là những trung tâm NCKH với những phòng thí nghiệm nghiên cứu hiện đại, có đội ngũ chuyên gia hàng đầu đã và đang sản sinh ra những phát minh to lớn về các lĩnh vực khác nhau: Khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, kinh tế học, xã hội nhân văn, văn hoá nghệ thuật…
Ở Hoa Kỳ là ĐH Harvard University, Yale University, Massachusetts Institute of Technology.... Ở Vương Quốc Anh là ĐH Oxford University, Cambridge University... Ở Pháp là ĐH Paris University, Collège de Sorbonne…. Ở Nhật Bản là ĐH Tokyo University, Kyoto University….Ở Trung Quốc là ĐH Thanh Hoa, ĐH Bắc Kinh…Trên thế giới là như vậy, lẽ nào ở đất nước ta, các ĐH của ta lại đi ngoài quỹ đạo chung đó, chân lý đó.
Việt Nam: Nhiều ĐH là phổ thông “cấp 4”?
Ở nước ta, khoảng một thế kỷ qua, hàng trăm trường ĐH lần lượt ra đời. Trong những hoàn cảnh rất khó khăn, một số trường đã cố gắng phát triển cả tiềm năng giảng dạy và tiềm năng NCKH, đạt được những thành tựu nhất định trong công cuộc đào tạo đội ngũ trí thức cho đất nước.
Tuy nhiên, thành tựu đó vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội hiện nay. Chất lượng đào tạo ĐH nhiều trường còn thấp. Một trong những nguyên nhân chủ yếu nằm ở tiềm lực và trình độ NCKH non yếu của bản thân các trường ĐH.
Lấy số lượng và chất lượng các bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế làm tiêu chí, chúng ta sẽ thấy nền ĐH nước ta đang nằm phía sau, khá xa, so với ĐH các nước như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia.
Cụ thể hơn, có thể so sánh số lượng bài báo công bố vào năm 2004 của hai ĐH khoa học hàng đầu VN (ĐHQG Hà Nội và ĐHQG T/p. HCM) với hai ĐH tương tự của Thái Lan (ĐH Chulalongkorn và ĐH Mahidol).
Con số đó ở hai ĐH của nước ta là 54, còn ở hai ĐH của Thái Lan là 881, như vậy, tính riêng số lượng, “ta” thua kém “bạn”- một nước khu vực, mà GDĐH chưa phải loại mạnh, đến những trên 10 lần!
Từ đó có thể hình dung bức tranh chung của hàng trăm trường ĐH khác trong toàn quốc. Đặc biệt với các trường xa các thành phố lớn, xa các trung tâm nghiên cứu quốc gia, hoặc hàng loạt ĐH mới mở gần đây.
Tình trạng chung của các trường ĐH nước ta là nghèo về thiết bị NCKH, thiếu các nhà NCKH đầu đàn, nguội lạnh không khí NCKH. Nhà trường và các giảng viên ĐH thường xem nhẹ, hoặc chỉ thực hiện một cách hình thức, mang tính đối phó với nhiệm vụ NCKH.
Do đó, khá phổ biến phương pháp thầy giảng- trò ghi, còn sinh viên ít được cập nhật những tri thức hiện đại, ít tiếp cận những kỹ năng NCKH, lúng túng trước những vấn đề cuộc sống đặt ra khi bước vào đời.
Các ĐH như vậy thực ra chẳng khác biệt mấy về chất, so với các trường phổ thông, hoặc như trước nay chúng ta vẫn nói, đó chỉ là các “trường phổ thông cấp 4”.
Với tình trạng nói trên, làm sao chất lượng đào tạo, hay trình độ của sinh viên tốt nghiệp ĐH nước ta có thể đạt được tầm chung của thế giới hiện nay? Điều này, các tổ chức quốc tế như Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã đánh giá.
Theo nguồn số liệu thống kê của WEF, yếu tố “đào tạo và giáo dục ĐH” của VN được đánh giá 3,94 điểm và xếp vào hạng thứ 98, trong tổng số trên 100 nước tham gia khảo sát. Còn theo các chuyên gia của WEF, ở Việt Nam có ba yếu tố - lạm phát, hạ tầng và lao động có trình độ - được liệt vào “những vấn đề đáng lo ngại nhất”. “Lao động có trình độ” ở đây, chính là sản phẩm đào tạo của hệ thống ĐH và cao đẳng.
Sự xếp hạng và đánh giá của WEF nói trên là cảnh báo “đỏ” đối với nền giáo dục ĐH và nói riêng, đối với thực trạng NCKH của phần lớn các trường ĐH nước ta.